vanban.org

Bản án 95/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 18/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm n,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo V Th Th 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 25/4/2023 đến ng…

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 18.8.2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm n,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo V Th Th 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 25/4/2023 đến ng…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2023/HS-ST
Ngày 18-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thò Bá Tểnh

Ông Trần Đình Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lô Văn Tim - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: V Th Th, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 12 tháng 8 năm 1993 tại huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản X L, xã Y H, huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông V H L và con bà V Th M; chồng: L K D (Đã ly hôn), con: Có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25 tháng 4 năm 2023 đến ngày 05 tháng 5 năm 2023 thì thay thế biện pháp ngăn chặn bằng hình thức bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Văn Lý – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị B Th A N, sinh năm 1995. Trú tại: Bản C, xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: Anh Đ V Gi. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 25/4/2023, V Th Th một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Vision, biển kiểm soát 37D1-209.09 đi từ nhà ở bản X L, xã Y H, huyện T D, tỉnh Nghệ An đến khu vực bản V xã Y N, huyện T D, tỉnh Nghệ An, mục đích tìm mua ma tuý sử dụng. Đến khu vực bản Vẽ Thẩm nhìn thấy một người đàn ông không quen biết đang đứng bên đường, Thẩm đi lại gần bắt chuyện rồi hỏi người đàn ông “Có gà không?” (Ý hỏi có hồng phiến ma tuý tổng hợp bán không), người đàn ông nói “Mua bao nhiêu?”, Th nói “Mua một triệu bốn trăm nghìn đồng”, đồng thời lấy tiền trong người ra đưa cho người đàn ông 1.400.000đ, người đàn ông cầm tiền rồi đi bộ lên đồi, một lúc sau quay lại đưa cho Th 01 gói hồng phiến (ma tuý tổng hợp) gói bằng bao potylen màu đen, Th cầm gói ma tuý cất giấu trong túi áo khoác bên trái của Th đang mặc rồi điều khiển xe máy về. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi V Th Th điều khiển xe đến khu vực bản X P, xã Y N, huyện T D, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện T D yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra thì V Th Th tự nguyện lấy trong túi áo khoác ra giao nộp cho Công an 01 gói bằng bao potylen màu đen, bên trong chứa các viên nén màu hồng, Th khai nhận gói chứa các viên nén màu hồng Th nộp cho công an là hồng phiến (ma tuý tổng hợp) của Thẩm mua về để sử dụng.

Kết luận giám định số 476/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 29/4/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:

- Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của V Th Th gửi giám định là ma tuý; loại Methamphetamine; có khối lượng 9,23g (Chín phẩy hai mươi ba gam).

Bản Cáo trạng số 99/CT-VKS-TD ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đã truy tố V Th Th về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm n,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: V Th Th mức án từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.

Người bào chữa đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của các bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên lượng mình ở mức thấp nhất theo lời đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo cụ thể 04 năm 6 tháng đến 05 năm tù, miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Vision, biển kiểm soát 37D1-209.09 nên không yêu cầu gì thêm.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo V Th Th đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 25/4/2023, tại khu vực bản Xốp Pu, xã Y N, huyện T D, tỉnh Nghệ An, Công an huyện T D đang làm nhiệm vụ thì phát hiện bắt quả tang V Th Th đang có hành vi tàng trữ trái phép 9,23g ma tuý Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T D đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra, bị cáo phạm tội khi đang mang thai nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức như lời đề nghị của Kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Mức đề xuất của Người bào chữa thấp so với khối lượng Methamphetamime mà bị cáo đã tàng trữ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho V Th Th ở khu vực bản Vẽ, xã Y N, huyện T D. Do Th không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Đối với B Th A N là chủ sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Vision, biển kiểm soát 37D1-209.09. Do chị Na không biết việc V Th Th lấy xe của mình để đi mua ma tuý, nên hành vi của B Th A N không cấu thành tội phạm

Xử lý vật chứng: 9,23g Methamphetamine (đã lấy 1g đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Vision, biển kiểm soát 37D1-209.09 quá trình điều tra, xác minh chiếc xe có chủ sở hữu hợp pháp là chị B Th A N, sinh năm 1995, trú tại bản Canh, xã Nga My, huyện T D, tỉnh Nghệ An gửi với V Th Th để đi làm ăn xa, việc Thẩm sử dụng chiếc xe để đi mua ma tuý chị B Th A N không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chị B Th A N là đúng với quy định của pháp luật

Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm n,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo V Th Th 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 25/4/2023 đến ngày 05/5/2023.

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 18.8.2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An);

[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo V Th Th.

[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 18/9/2023.

Cỡ chữ