- Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án HSST LVH TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố LVH phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML TỈNH SL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________ Bản án số: 95/2023/HS-ST Ngày 29-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SL
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Chức.
Ông Nguyễn Văn Tuấn.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My tại điểm cầu trung tâm và ông Đào Ngọc Sơn tại điểm cầu thành phần - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên toà: Ông Bế Hoàng Dương tại điểm cầu trung tâm và ông Lường Văn Hoan tại điểm cầu thành phần - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL và tại điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện ML, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo
LVH, sinh ngày 02/7/1992, tại PT, ML, SL; Nơi ĐKHKTT: Bản L, xã PT, huyện ML, tỉnh SL; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 2/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông LVP, đã chết và con bà LTC, sinh năm 1973; vợ là CTT đã ly hôn, một con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại bản án số: 153/2020/HSST ngày 17/7/2020 của TAND quận NTL, Thành Phố HN đã xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đặng Văn Quảng - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh SL. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo LVH bị Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 09/5/2023, tại Bản L, PT, huyện ML, tỉnh SL, Công an phát hiện và bắt quả tang LVH, sinh ngày 02/7/1992, ở Bản L, PT, huyện ML, tỉnh SL đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ do LVH tự giác lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc giao nộp: 01 gói giấy có dòng kẻ ngang bên trong có chứa cục bột màu trắng, LVH khai là Heroine để sử dụng;
Ngày 09/5/2023 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:
Vật chứng thu giữ do LVH tự giác giao nộp:
01 gói giấy có dòng kẻ ngang bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,12 gam, lấy 0,12 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu H;
Cơ quan Công an huyện ML ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 970/KL-KTHS ngày 10/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh SL, kết luận:
Mẫu ký hiệu H là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,12 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,12 gam Heroine;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo LVH, người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra LVH khai nhận: Ngày 08/5/2023 LVH đi đến khu vực bản Nà Trà, PT, huyện ML, tại đây LVH có gặp và mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 100.000, đồng mang về đã sử dụng một ít, đến hồi 09 giờ 00 phút ngày 09/5/2023 đi đến khu vực Bản L, PT, huyện ML thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Về nguồn gốc ma túy LVH khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ với số tiền 100.000, đồng, nên không căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của LVH.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo LVH đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bản cáo trạng số: 68/CT-VKS-ML ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo LVH về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:
2
Tuyên bố bị cáo LVH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt LVH từ 18 đến 24 tháng tù;
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh giấy có dòng kẻ ngang (đều được niêm phong).
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, người bào chữa nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Bị cáo LVH thừa nhận: Hồi 09 giờ 00 phút ngày 09/5/2023, tại Bản L, PT, huyện ML, tỉnh SL đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,12 gam, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.
3
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: LVH đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần có mức hình phạt nhằm giáo dục bị cáo.
Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo đã bị kết án: Tại bản án số: 153/2020/HSST ngày 17/7/2020 của TAND quận NTL, Thành Phố HN đã xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã xóa án tích. Bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh giấy có dòng kẻ ngang (đều được niêm phong).
Về nguồn gốc ma túy LVH khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ với số tiền 100.000, đồng, nên không căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của LVH, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do thuộc hộ nghèo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố LVH phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo LVH 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 09/5/2023.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ bóc mở; 01 mảnh giấy có dòng kẻ ngang gói ban đầu (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong
4
cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 09/5/2023).
Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển ngày 11/8/2023 cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML, tỉnh SL.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 29/8/2023.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh SL; - Sở tư pháp tỉnh SL; - VKSND huyện ML (2); - Công an huyện ML; - THAHS; - Chi cục THA dân sự huyện ML; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu: Hồ sơ, án văn. 5 6 | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Nguyễn Minh Tuấn |