vanban.org

Bản án 95/2023/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 10/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2023/HS-ST ngày 22/5/2023 của Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Hằng phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2023/HS-PT
Ngày 10-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hữu Trường

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Quang Trung

Ông Lưu Văn Tỉnh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tươi - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 72/2023/TLPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Trần Thị H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2023/HS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

- Bị cáo kháng cáo:

Trần Thị H, sinh ngày 11/11/1988; nơi thường trú: Số 16 Mạc Kinh Đ, phường Bắc S, quận Kiến A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số 88 Hoàng Thiết T, phường Bắc S, quận Kiến A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công Đ và bà Lương Thị H; có chồng là Mạc Văn Qu và 03 con; tiền án: Không; có 01 tiền sự: Ngày 09/3/2022, Công an quận Kiến An ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi bán số lô, đề tại tổ 5 phường Bắc Sơn, quận Kiến An (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); bị tạm giữ từ ngày 28/12/2022, đến ngày 03/01/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Ngoài ra còn có 02 bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị; bị cáo Vũ Thị Hoài H vắng mặt, bị cáo Trần Thị H, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trịnh Thị D và ông Phạm Ngọc H - Luật sư Văn phòng luật sư Atlantic thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng; ông H vắng mặt, bà D có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ ngày 27/12/2022, lực lượng Công an quận Kiến An kiểm tra hành chính, phát hiện Trần Thị H, Trần Thị H, Nguyễn Thị Ph (sinh năm 1967, nơi cư trú: số 94 Hoàng Thiết Tâm, phường Bắc Sơn, quận Kiến An, Hải Phòng) đang ghi số đề tại khu vực chợ Bến Phà, tuyến đường Hoàng Thiết Tâm, phường Bắc Sơn, quận Kiến An, Hải Phòng. Thu giữ của Trần Thị H 11 tờ tích kê ghi số đề có chữ ký của H và số tiền 4.965.000 đồng (Bốn triệu chín trăm sáu mươi lăm ngàn đồng); thu giữ của Trần Thị H 02 tờ phơi ghi đề và 09 tờ tích kê ghi số đề có chữ ký của Trần Thị H; thu giữ của Nguyễn Thị Ph 01 tờ tích kê ghi số đề có chữ ký của Nguyễn Thị Ph (Bút lục số 06).

Tại Cơ quan điều tra Trần Thị H, Trần Thị H, Nguyễn Thị Ph khai nhận: Do không có công ăn việc làm ổn định nên H, Hường, Phương đã ghi số lô, số đề của khách vãng lai qua đường và chuyển tất cả số lô, số đề bán được trong ngày cho Vũ Thị Hoài H để hưởng lợi nhuận.

Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập, lấy lời khai của Vũ Thị Hoài H, tại Cơ quan điều tra Vũ Thị Hoài H khai nhận:

Do không có công ăn việc làm ổn định, nên khi được một người phụ nữ tên Hương (Vũ Thị Hoài H không biết rõ nhân thân lai lịch của người này) rủ ghi số lô, số đề thuê thì Vũ Thị Hoài H đã đồng ý. Hai bên thỏa thuận hàng ngày Hương sẽ ghi số lô, số đề để chuyển cho người phụ nữ nói trên và hưởng phần trăm lợi nhuận, cụ thể:

- Nếu số đề khách mua trùng với 03 số cuối của giải đặc biệt (số ba càng) tại kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng cùng ngày thì trả cho khách trúng thưởng số tiền gấp 400 lần số tiền khách bỏ ra mua. Tiền phần trăm lợi nhuận Vũ Thị Hoài H được hưởng là 40% tổng số tiền đã bán.

- Nếu số đề khách mua trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt tại kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng cùng ngày thì trả cho khách số tiền gấp 80 lần số tiền khách bỏ ra mua. Tiền phần trăm lợi nhuận của Vũ Thị Hoài H là 18% tổng số tiền đã bán.

- Nếu khách mua trúng số lô thường (số lô khách mua trùng với 02 số cuối của

tất cả các giải trong kết quả xổ số) thì trả thưởng cho khách gấp 3,4 lần số tiền khách bỏ ra mua. Tiền phần trăm lợi nhuận của Vũ Thị Hoài H là 7% tổng số tiền đã bán.

- Nếu trúng số lô xiên 2 (trùng với 02 cặp số bất kỳ của tất cả các giải) thì trả cho khách gấp 14 lần số tiền khách bỏ ra mua, Tiền phần trăm lợi nhuận của Vũ Thị Hoài H là 22% tổng số tiền đã bán. Nếu trúng số lô xiên 3 (trùng với 03 cặp số bất kỳ của tất cả các giải) thì trả cho khách gấp 48 lần, nếu trúng số lô xiên 4 (trùng với 04 cặp số bất kỳ của tất cả các giải) thì trả cho khách gấp 180 lần số tiền khách bỏ ra mua; đối với số lô xiên 3 và xiên 4, tiền phần trăm lợi nhuận của Vũ Thị Hoài H là 24% tổng số tiền đã bán.

Sau khi nhận ghi số lô, số đề cho người phụ nữ tên Hương như đã nêu, Vũ Thị Hoài H đã rủ H, Hường, Phương cùng bán số lô, số đề chuyển cho Vũ Thị Hoài H. Số tiền trúng thưởng, Hương trả cho H, Hường, Phương theo nguyên tắc trên còn đối với tiền phần trăm lợi nhuận của H, Hường, Phương thì được Vũ Thị Hoài H trả như sau:

- Trả cho Hường, Phương: đối với số ba càng Hường, Phương được lợi nhuận 35%; đối với số đề được 10%; đối với số lô thường được 6%; đối với số lô xiên 2, xiên 3, xiên 4 đều được hưởng 22% số tiền khách đánh.

- Trả cho H: đối với số ba càng H được lợi nhuận 35%; đối với số đề được 6%; đối với số lô thường được 5%; đối với số lô xiên 2, xiên 3, xiên 4 đều được hưởng 22% số tiền khách đánh. Số tiền phần trăm lợi nhuận Hương trả cho H ít hơn so với Hường, Phương bởi vì H mới tham gia ghi đề cho Hương.

Để thu hút khách hàng, đối với khách mua số đề trúng thưởng thì H, Hường, Phương đều trả cho khách số tiền gấp 90 lần số tiền khách bỏ ra mua (nhiều hơn so với số tiền Hương trả), số tiền phải bù thêm H, Hường, Phương trích từ tiền phần trăm lợi nhuận của việc bán số lô, số đề thuê.

Hàng ngày, Trần Thị H, Trần Thị H, Nguyễn Thị Ph thường ra vỉa hè đường Hoàng Thiết Tâm, phường Bắc Sơn, Kiến An ngồi ghi số lô đề bán cho khách vãng lai, sau đó đến cuối ngày thì thống kê những số lô, đề đã bán được ra một tờ giấy (gọi là tờ phơi, bảng đề) rồi H, Hường chụp ảnh lại gửi qua tài khoản mạng xã hội zalo có tên “ABC” cho Vũ Thị Hoài H còn Phương nộp bảng đề trực tiếp cho Hương. Hàng ngày, từ kết quả mở thưởng xổ số miền Bắc, người phụ nữ tên Hương sẽ thống kê rồi bù trừ số tiền được thua, tiền phần trăm của bảng đề để thu tiền hoặc bù tiền cho Vũ Thị Hoài H, sau đó Vũ Thị Hoài H tiếp tục bớt lại tiền phần trăm lợi nhuận của mình và thanh toán tiền trực tiếp cho H, Hường, Phương (gồm tiền trả thưởng cho khách trúng đề nếu có và tiền phần trăm của H, Hường, Phương). H, Hường Phương tiếp tục trực tiếp trả tiền thưởng cho khách. Việc thanh toán tiền của người phụ nữ tên Hương thường do người phụ nữ này trực tiếp đến gặp Vũ Thị Hoài H để thanh toán vào buổi tối hàng ngày. Việc thanh toán diễn ra nhanh, đồng thời người phụ nữ luôn bịt mặt kín nên Vũ Thị Hoài H không biết nhân thân lai lịch, không nhận ra những đặc điểm nhận dạng cụ thể của người này.

Căn cứ các tờ phơi, tờ tích kê cho thấy trong các ngày 26/12/2022 và 27/12/2022 số tiền đánh bạc của các đối tượng Vũ Thị Hoài H, H, Hường, Phương như sau:

- Ngày 26/12/2022:

+ Số tiền Trần Thị H ghi số lô, số đề cho khách là 5.425.000 đồng, không có khách nào trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc là 5.425.000 đồng. Số tiền thu lời của H là 287.000 đồng.

+ Số tiền Trần Thị H ghi số lô, số đề cho khách là 3.475.000 đồng, có 01 khách trúng thưởng số tiền là 1.750.000 đồng (khách mua 01 số lô thường với số tiền đánh 500.000 đồng, được trả thưởng gấp 3,5 lần). Tổng số tiền đánh bạc là 5.225.000 đồng. Số tiền thu lời của Hường là 371.000 đồng.

+ Số tiền Nguyễn Thị Ph ghi số lô, số đề cho khách là 40.000 đồng, không có khách nào trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc là 40.000 đồng.

+ Số tiền đánh bạc của Vũ Thị Hoài H là 10.690.000 đồng. Số tiền thu lời của Hương là 346.000 đồng

- Ngày 27/12/2022:

+ Số tiền Trần Thị H ghi số lô, số đề cho khách là 5.475.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 5.475.000 đồng.

+ Số tiền Trần Thị H ghi số lô, số đề cho khách là 850.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 850.000 đồng.

+ Số tiền khách ghi đề cho Nguyễn Thị Ph là 60.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 60.000 đồng.

+ Số tiền đánh bạc của Vũ Thị Hoài H là 6.335.000 đồng.

Trong ngày 27/12/2022 H, Hường, Phương chưa kịp chuyển bảng đề cho Vũ Thị Hoài H thì bị phát hiện, làm rõ. Tại thời điểm hành vi của các đối tượng bị phát hiện thì chưa diễn ra việc quay số mở thưởng xổ số miền Bắc hàng ngày.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2023/HS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng đã quyết định: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị H 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Trừ cho bị cáo 07 (bảy ngày bị tạm giữ từ ngày 28/12/2022 đến ngày 03/01/2023). Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo khác, án phí và tuyên quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/5/2023 bị cáo Trần Thị H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo để bị cáo có thể chăm sóc 03 con nhỏ của mình. Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

* Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau:

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ tính chất của vụ án và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án 15 tháng tù là đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ gì mới. Xét thấy mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là phù hợp, không nặng nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo nêu quan điểm: Luật sư cho rằng trích lục tiền án tiền sự có ghi bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên lại có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bị cáo H hoàn toàn không biết có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính này nên đề nghị HĐXX xem xét để xử phạt hình phạt đối với bị cáo, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Trần Thị H trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và tại Cơ quan điều tra và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 26/12/2022 và 27/12/2022, các bị cáo Vũ Thị Hoài H, Trần Thị H, Trần Thị H đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề; trong đó Vũ Thị Hoài H bán số lô, số đề với tổng số tiền là 10.690.000 đồng, Trần Thị H bán số lô, số đề với tổng số tiền là 5.425.000 đồng, Trần Thị H bán số lô, số đề với tổng số tiền là 5.225.000 đồng. Ngày 27/12/2022, Vũ Thị Hoài H, Trần Thị H, Trần Thị H tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề; trong đó Vũ Thị Hoài H bán số lô, số đề với tổng số tiền là 6.335.000 đồng đồng, Trần Thị H bán số lô, số đề với tổng số tiền là 5.475.000 đồng, Trần Thị H bán số lô, số đề với tổng số tiền là 850.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Vũ Thị Hoài H, Trần Thị H và Trần Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321. Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Thị H theo tội danh và điều luật đã nêu là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo về việc bị cáo không biết có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo. Xét thấy, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo là có, tại phiên tòa bị cáo khai đã đến trụ sở công an để làm việc và có lăn tay, điểm chỉ về việc xử phạm vi phạm hành chính này, bị cáo cũng không có ý kiến về việc xử phạm vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị trên của Luật sư bào chữa cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội vào các ngày 26 và 27/12/2022, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng qnên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét kháng cáo của bị cáo H xin giảm nhẹ hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo H 15 tháng tù về tội "Đánh bạc". Mức hình phạt đã tuyên là phù hợp với yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ gì mới. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo mức án 15 tháng tù là phù hợp, không nặng nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo H không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị H 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Trừ cho bị cáo 07 (bảy ngày bị tạm giữ từ ngày 28/12/2022 đến ngày 03/01/2023).

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Trần Thị H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2023/HS-ST ngày 22/5/2023 của Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ