- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mẫn - Khoa"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH Đ Bản án số: 95/2023/HNGĐ-ST Ngày: 03-8-2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ - TỈNH Đ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Đông và bà Trương Thị Lệ Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 177/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/4/2023, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 94/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm: 1981
Địa chỉ: Số 212/A56A Nguyễn Trãi, khu phố 7, phường Nguyễn Cư Trinh,
Quận 1, Thành phố H.
- Bị đơn: Anh Mai Anh K, sinh năm: 1991
Địa chỉ: Khu 1, Ấp 1, xã Phú Hòa, huyện Đ, tỉnh Đ.
(Chị M có đơn xin vắng mặt, anh K vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/4/2023, lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh K tự nguyện kết hôn với nhau được UBND xã Phú Hòa, huyện Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 05/02/2020, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống sau đó vợ chồng sống ly thân. Nay chị M không còn tình cảm với anh K và quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh K.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị M khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Mai Anh K mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để làm việc vì vậy không có lời khai hay lời trình bày của anh K.
Để chứng minh cho yêu cầu, ý kiến của mình, nguyên đơn đã nộp kèm theo đơn khởi kiện những tài liệu chứng cứ sau: bản sao chứng minh nhân dân chị M; bản sao sổ hộ khẩu chị M; bản chính giấy chứng nhận kết hôn; Giấy xác nhận thông tin cư trú; Lời khai của nguyên đơn tại bản tự khai; Đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp Tòa án đã tiến hành sao gửi hợp lệ cho bị đơn.
Để giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã tiến hành thu thập những tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản xác minh ngày 19/5/2023 về tình trạng hôn nhân của các đương sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn không tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận cho chị Nguyễn Thị M ly hôn với anh Mai Anh K.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị M trình bày không có không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Mai Anh K. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Bị đơn anh Mai Anh K có nơi cư trú tại: Ấp 1, xã Phú Hòa, huyện Đ, tỉnh Đ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Mai Anh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị M và anh K được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Hòa, huyện Đ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 05/02/2020, do đó đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Đời sống hôn nhân của chị M, anh K không hạnh phúc và mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo kết quả xác minh tại địa phương thể hiện là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và hiện đã sống ly thân từ năm 2022. Do đó vợ chồng không ai quan tâm đến ai, không còn thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Lời khai của nguyên đơn về quá trình chung sống của vợ chồng phù hợp với biên bản xác minh. Vì vậy có đủ cơ sở xác định vợ chồng chị M, anh K đã có những mâu thuẫn lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn.
Từ lời khai của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ thu thập được nhận thấy chị M, anh K trong quá trình sống chung đã không tôn trọng, thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình yêu cầu ly hôn của chị M đối với anh K là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết; về nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết. Đối với anh K nếu có yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung với chị M có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị M là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, do đó phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 19, 51, 56 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M về việc “Ly hôn” đối với anh Mai Anh K.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Mai Anh K.
2. Về nuôi con chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung: Tòa án không xem xét, giải quyết; về nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết. Khi nào có tranh chấp về chia tài sản chung và nợ chung sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000 đồng chị M đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0004303 ngày 20/4/2023 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đ, tỉnh Đ được chuyển thành án phí. Chị M đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Chị M, anh K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - Chi cục THA huyện Đ; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã Phú Hòa; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Thịnh |