- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Ngọc H đối với anh Nguyễn Văn K.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14/9/2023 V/v: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Văn Hoàng;
2. Ông Mai Trần Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Nguyên Phượng – Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh: Bà Khổng Thị Thu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023, về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 41/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 3 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - chị Trần Thị Ngọc H trình bày:
Chị và anh K tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2010, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh vào ngày 15/12/2010. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 9/2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, anh K hay ghen tuông, đánh đập chị. Chị và và hai con về nhà cha mẹ ruột tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh sinh sống từ tháng 10 năm 2022, vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay. Nay chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
Về con chung: Chị và anh K sống chung có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Thủy T, sinh ngày 24/7/2010 và Nguyễn Văn K1 sinh ngày 11/10/2012. Hiện nay các con đang sinh sống cùng với chị tại nhà cha mẹ ruột tại địa chỉ ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Hiện nay cháu T học lớp 7 trường Trung học cơ sở Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh, cháu Khoa học lớp 4 tại trường Tiểu học xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung, chị không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị và anh K tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyêt.
Về án phí: Chị tự nguyện chịu án phí theo quy định của pháp luật.
* Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng và giấy triệu tập cho anh Nguyễn Văn K hợp lệ nhưng anh K không đến Tòa án để làm việc nên không có lời khai, lời trình bày.
Tại phiên tòa chị H, anh K vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật liên quan. Anh K đã được tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng và giấy triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa không có lý do là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử;
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Ngọc H đối với anh Nguyễn Văn K.
Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Ngọc H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Nguyễn Thị Thủy T, sinh ngày 24/7/2010 và Nguyễn Văn K1 sinh ngày 11/10/2012. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, nợ chung khi ly hôn, nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: chị Trần Thị Ngọc H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: chị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn K hiện có hộ khẩu thường trú và có nơi cư trú tại ấp T, xã Đ, huyện C, Tây Ninh. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Chị Trần Thị Ngọc H vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và anh Nguyễn Văn K đã được niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H và anh K.
Về quan hệ hôn nhân: chị H, anh K chung sống với nhau từ năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh vào ngày 15/12/2010, nên hôn nhân của chị H, anh K là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị H cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng tính tình không hợp, mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, anh K hay ghen tuông, đánh đập chị. Chị và và hai con về nhà cha mẹ ruột tại địa chỉ ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập cho anh K, nhưng anh K không đến Tòa án nên không có lời khai, lời trình bày.
Chị H, anh K sống ly thân từ tháng 10/2022 đến nay và nộp đơn khởi kiện ly hôn vào ngày 27/3/2023, nhưng anh K không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng không có khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Ngọc H đối với anh Nguyễn Văn K.
Về con chung: Chị H, anh K sống chung có 02 người con chung là Nguyễn Thị Thủy T, sinh ngày 24/7/2010 và Nguyễn Văn K1 sinh ngày 11/10/2012; hiện nay 02 con chung đang sống chung với chị H. Quá trình giải quyết vụ án cháu T, cháu K1 có nguyện vọng sống chung với chị H. Căn cứ vào sự đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, giao 02 người con chung cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi chị H, anh K ly hôn là phù hợp.
Chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Ngọc H đối với anh Nguyễn Văn K.
Chị Trần Thị Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
2. Về con chung: Chị Trần Thị Ngọc H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 người con chung là cháu Nguyễn Thị Thủy T, sinh ngày 24/7/2010 và cháu Nguyễn Văn K1 sinh ngày 11/10/2012. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: chị Trần Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị H đã nộp theo biên lai thu số 0018374 ngày 07 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Châu Thành; - CCTHADS huyện Châu Thành; - UBND xã Đ, huyện C; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Kim Ngân |