vanban.org

Bản án 95/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Dư Thị Lan Đ được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Trọng H, sinh ngày 04/01/2012 và Nguyễn Quốc C, sinh ngày 11/6/2011 cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn Dư Thị Lan Đ và bị đơn Nguyễn Văn N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Dư Thị Lan Đ được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 15-9-2023
Về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngọc Giàu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Huệ

Bà Hồ Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Mãi - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 131/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Dư Thị Lan Đ, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Ấp K, xã Đ, huyện An Biên, tỉnh K.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh K.

(Chị Đ có mặt; anh N vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Dư Thị Lan Đ trình bày:

Do mai mối vào năm 2010 chị có kết hôn với anh Nguyễn Văn N (có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 71/2012 cấp ngày 19/6/2012 tại UBND xã Đ, huyện A). Trong quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp nhau về quan điểm sống, anh N suốt ngày ăn nhậu say xỉn, bỏ bê công việc gia đình, không quan tâm chia sẻ với vợ con, mọi việc trong ngoài đều một mình chị lo liệu, nhiều lần chị có khuyên ngăn nhưng anh không sửa đổi. Vì không còn chịu đựng được nữa nên mẹ con chị bỏ về nhà ngoại sống từ năm 2018 đến nay, từ đó đến nay anh N không qua thăm con và cũng không phụ giúp đồng nào. Xét thấy hiện nay vợ chồng không còn hàn gắn được nữa nên chị đề nghị ly hôn. Chị xác định chị và anh N đã ly thân từ năm 2018 đến nay.

Về quan hệ hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Quốc C, sinh ngày 11/6/2011 và Nguyễn Trọng H, sinh ngày 04/01/2012. Hiện cháu H đang ở với chị, còn cháu C đang ở với anh N. Sau ly hôn yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Trọng H, sinh ngày 04/01/2012, chị đồng ý giao cháu Nguyễn Quốc C, sinh ngày 11/6/2011 cho anh N nuôi dưỡng. Hai bên không cấp dưỡng cho nhau.

Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa:

- Chị Đ: Xác định vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn; về con chung: hiện 02 con chung Nguyễn Trọng H, sinh ngày 04/01/2012 và Nguyễn Quốc C, sinh ngày 11/6/2011 đang ở với chị, chị yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

- Anh N: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần.

- Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, bị đơn vắng mặt không đảm bảo theo quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Đ được ly hôn với anh N; về con chung, xét thấy từ khi chị Đ và anh N ly thân thì 02 con chung cháu Nguyễn Trọng H, sinh ngày 04/01/2012 và cháu Nguyễn Quốc C, sinh ngày 11/6/2011 do chị Đ nuôi dưỡng, đồng thời 02 cháu cũng có nguyện vọng được ở với chị Đ nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao 02 con chung cho chị Đ nuôi dưỡng, về cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết do chị Đ không có yêu cầu; Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đ xác định không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn N có hộ khẩu thường trú ở Ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh K. Vì vậy tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Văn N là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đã vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh N trong vụ án này.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

- Xét thấy quan hệ hôn nhân của chị Đ và anh N là hợp pháp, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh K cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 71 cấp ngày 19 tháng 6 năm 2012. Do mai mối chị và anh N tiến tới hôn nhân. Anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.

Theo chị Đ nguyên nhân là trong quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp nhau về quan điểm sống, anh N suốt ngày ăn nhậu say xỉn, bỏ bê công việc gia đình, không quan tâm chia sẻ với vợ con, mọi việc trong ngoài đều một mình chị lo liệu, nhiều lần chị có khuyên ngăn nhưng anh không sửa đổi. Vì không còn chịu đựng được nữa nên mẹ con chị bỏ về nhà ngoại sống từ năm 2018 đến nay, từ đó đến nay anh N không qua thăm con và cũng không phụ giúp đồng nào. Xét thấy hiện nay vợ chồng không còn hàn gắn được nữa nên chị đề nghị ly hôn. Chị xác định chị và anh N đã ly thân từ năm 2018 đến nay.

Anh N không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện cũng như nguyên nhân mâu thuẫn mà phía chị Đ đưa ra. Mặc dù, lời trình bày của chị Đ là đơn phương nhưng anh N không có ý kiến phản bác đối với lời trình bày này. Hơn nữa, anh N không tham dự các phiên hòa giải của Tòa án để thể hiện ý kiến của mình là muốn đoàn tụ, hàn gắn mâu thuẫn hôn nhân chứng tỏ anh N không mong muốn tiếp tục duy trì hôn nhân với chị Đ. Đồng thời anh, chị đã có thời gian ly thân khá lâu từ năm 2018 đến nay nhưng vẫn không thể hàn gắn, đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân giữa chị Đ và anh N không thể tiếp tục kéo dài, tình trạng hôn nhân của anh, chị đã không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Đ là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Đ xác định giữa chị và anh N có 02 con chung là Nguyễn Quốc C, sinh ngày 11/6/2011 và Nguyễn Trọng H, sinh ngày 04/01/2012. Hiện 02 con chung đang ở với chị, khi ly hôn chị yêu cầu nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị Đ và anh N ly thân cho đến nay do chị Đ nuôi dưỡng 02 con chung. Anh N không có ý kiến gì về việc chị Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung. Đồng thời theo đơn trình bày nguyện vọng của 02 con chung thì sau khi cha mẹ ly hôn, đều có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ. Do đó để đảm bảo sự phát triển và quyền lợi của con chung nên cần tiếp tục giao 02 con chung là Nguyễn Trọng H, sinh ngày 04/01/2012 và Nguyễn Quốc C, sinh ngày 11/6/2011 cho chị Đ nuôi dưỡng là phù hợp.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;

[4] Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đ không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh N không có ý kiến tài sản chung cũng như nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[7] Xét đề nghị của Vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Các Điều 24; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Dư Thị Lan Đ được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Trọng H, sinh ngày 04/01/2012 và Nguyễn Quốc C, sinh ngày 11/6/2011 cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Tiền cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do không có yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết do không có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Dư Thị Lan Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị Đ đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001306 ngày 07/6/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh K. Xem như chị Đ đã thi hành xong phần án phí.

5. Chị Dư Thị Lan Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ