vanban.org

Bản án 95/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 06/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lỳ Lé S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU
———
Bản án số: 95/2022/HSST
Ngày:06/07/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Ngọc Sáng; Bà Lý Thị The

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên toà: Ông Lương Gia Khánh, kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 07 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2022/HSST, ngày 02 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:100/2022/QĐXXST – HS, ngày 24 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Lỳ Lé S - Tên gọi khác: không; Sinh năm:1974; sinh tại: xã K, huyện M, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: bản L Cò, xã K, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: không; Dân tộc: Hà Nhì; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lỳ Hà S - Sinh năm: 1948; Con bà:Chu Lý Pư - đã chết; Bị cáo có chồng là Mạ Khừ Chuy-Đã chết; Bị cáo có 02 con, con lớn nhất, sinh năm: 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, ạm giam từ ngày từ ngày 17/02/2022 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lỳ Lé S là Ông: Lê Mạnh Hùng - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu - Có mặt.

* Người phiên dịch: Anh Lỳ A Khụ - sinh năm: 1997; Trú tại khu phố 7; thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu - Có mặt.

* Người làm chứng: Phùng Lé X - sinh năm: 1978; Trú tại bản Gò Khà, xã Thu Lũm, huyện M, tỉnh Lai Châu - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 19 giờ ngày 16/02/2022, sau khi "làm lý" cho một số gia đình ở bản Gò Khà, xã thu Lũm, huyện M, tỉnh Lai Châu xong, Lỳ Lé S nhờ Phùng Lé X dùng xe mô tô chở S đi về nhà ở bản Là Ú Cò, xã K, huyện M, tỉnh Lai Châu để đem gạo cho các con. Nhưng khi về đến bản Là Ú Cò, S không về nhà, S nhờ X chở S đi xuống bản Pắc Ma, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu với mục đích đi tìm mua ma túy để sử dụng (nhưng không bảo cho X biết). Khi đến bản Pắc Ma, S xuống xe, bảo X ở bản Pắc Ma đợi, còn S đi bộ về bản Nặm Pặm (nay sáp nhập vào bản Pắc Ma), trên đường đi S gặp một người phụ nữ dân tộc La Hủ (S không biết tên), qua trao đổi mua bán, S đã mua được của người phụ nữ này 07 gói Heroine, bên ngoài gói bằng mảnh ni lon màu hồng (trong đó có 05 gói được gói 05 các mảnh ni lon màu hồng, 01 gói được gói bằng các mảnh ni lon màu xanh, 01 gói được gói bằng mảnh ni lon màu trắng) với số tiền là 500.000 đồng. Mua được Heroine, S cho vào trong 01 chiếc lọ nhựa đem theo rồi cầm trên tay trái đi ra chỗ X đứng đợi, sau đó X chở S về nhà đưa gạo cho gia đình S, rồi tiếp tục chở S đi lên bản Gò Khà, xã Thu Lũm, huyện M, tỉnh Lai Châu để tiếp tục "làm lý" cho gia đình X. Đến khoảng 23 giờ 05 phút, khi X chở S đến khu vực bản Tù Nạ, xã K, huyện M, tỉnh Lai Châu (Quốc lộ 4H), thì gặp tổ công tác xã K đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe để kiểm tra, X đã ném xuống rãnh thoát nước 01 gói ni lon màu hồng, thì bị tổ công tác soi đèn Pin phát hiện, yêu cầu S nhặt lên để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong gói ni lon màu hồng S vừa nhặt lên, bên trong có 07 gói bột khô vón cục màu trắng ( trong đó có 05 gói được gói trong các mảnh ni lon màu hồng, 01 gói được gói bằng mảnh ni lon màu xanh, 01 gói được gói bằng mảnh ni lon màu trắng), Lỳ Lé S khai nhận toàn bộ những gói bột khô vón cục màu trắng được gói trong các mảnh ni lon là Heroine của S, S mua về sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ toàn bộ vật chứng và 01 chiếc hộp nhựa màu đỏ, có nắp đậy.

Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, tại kết luận giám định số 28, ngày 17/02/2022 của người giám định theo vụ việc, đã xác định 07 gói chất bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Lỳ Lé S có tổng khối lượng là 2,68 gam. Tại bản Kết luận giám định số: 218/GĐ–KTHS, ngày 22/02/2022 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận 07 mẫu bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Lỳ Lé S gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.

Tại Cáo trạng số: 56/CT- VKS– MT, ngày 31 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo Lỳ Lé S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lỳ Lé S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo từ 2 năm tù đến 2 năm 6 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo là người nghiện, kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành.

Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy gồm: 08 mảnh ni lon ( trong đó có 06 mảnh màu hồng, 01 mảnh màu xanh, 01 mảnh màu trắng) và 01 chiếc lọ nhựa màu đỏ, có nắp đậy.

Về án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế - xã hội khó khăn.

Người bào chữa cho bị cáo Lỳ Lé S, trình bày luận cứ bào chữa, người bào chữa nhất trí với luận tội của kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm c khoảng 1, khoản 5 Điều 249; BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Tại phiên tòa bị cáo Lỳ Lé S khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo là thống nhất, phù hợp với các lời khai, tài liệu có trong hồ sơ; Bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Vì muốn có ma túy để sử dụng, vào khoảng 19 giờ, ngày 16/02/2022, Lỳ Lé S đã nhờ Phùng Lé X chở S đem gạo về nhà cho các con, nhưng khi về đến gần nhà của S, S không về nhà tiếp tục nhờ X chở xuống bản Pắc Ma với mục đích đi tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến bản Pắc Ma, S bảo X đợi ở bản Pắc Ma, còn S đi bộ đi đến bản Nặm Pặm cũ (nay đã sáp nhập bản Pắc Ma), tại bản Nặm Pặm, S đã gặp và mua được của một người phụ nữ dân tộc La Hủ 07 gói Heroine với số tiền là 500.000 đồng. Mua được Heroine, S đi bộ đến chỗ X đứng đợi, bảo X chở gạo đem về cho các con của S ở bản L Cò, đưa gạo cho các con xong, X tiếp tục chở S đi lên "làm lý" cho gia đình X ở bản Gò Khà, xã Thu Lũm, huyện M, tỉnh Lai Châu. Đến khoảng 23 giờ 05 phút cùng ngày, khi X chở S đi đến khu vực bản Tù Nạ, xã K, huyện M, tỉnh Lai Châu thì bị tổ công tác Công an xã K phát hiện, bắt quả tang thu giữ của Lỳ Lé S 07 gói Heroine có tổng khối lượng 2,68 gam.

Như vậy khẳng định, hành vi mua 2,68 gam Heroine, nhằm mục đích để sử dụng của Lỳ Lé S đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số: 56/CT - VKS - MT, ngày 31 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố đối với Lỳ Lé S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”' theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3 ] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc mua Heroine tàng trữ để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng do nghiện chất ma túy, muốn có Heroine để thỏa mãn cơn nghiện, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, cần phải có mức hình phạt tù nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, cũng là để bị cáo có thời gian cai nghiện chất ma túy. Tuy nhiên khi xem xét đưa ra mức hình phạt cần phải xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

[ 4 ] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân, bị cáo Lỳ Lé S có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo chưa có tiền án tiền sự, bị cáo là người nghiện chất ma túy.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, không có trình độ học vấn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế nhât định, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.

[ 5 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy, bị cáo Lỳ Lé S là người nghiện chất ma túy, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong vụ án này, theo lời khai của Lỳ Lé S, số Heroine Lỳ Lé S có được là do S mua của một người phụ nữ dân tộc La Hủ, tại khu vực bản Nậm Pặm (cũ) nay là bản Pắc Ma, xã M, huyện Mường, tỉnh Lai Châu, nhưng S không biết rõ lai lịch của người này, nên không có cơ sở để điều tra xử lý được đối với người này. Đối với Phùng Lé X là người dùng mô tô chở S đi mua Heroine, nhưng khi đi và khi mua được Heroine, X hoàn toàn không biết, nên không xử lý trách nhiệm của X là đúng quy định pháp luật.

[ 6 ] Về vật chứng: Đối với những vật chứng thu giữ còn lại gồm: 08 mảnh ni lon (trong đó có 06 mảnh ni lon màu hồng, 01 mảnh ni lon màu xanh, 01 mảnh ni lon màu trắng) và 01 lọ nhựa màu đỏ, có nắp đậy, đây là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội cần phải tịch thu tiêu hủy.

[ 7 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy, bị cáo Lỳ Lé S là người dân tộc thiểu số, có điều kiện kinh tế khó khăn, sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và ý kiến đề nghị của người bào chữa là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần phải chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí.

1. Tuyên bố bị cáo Lỳ Lé S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lỳ Lé S 02 (hai) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo tạm giữ, tạm giam là ngày 17/02/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy gồm: 08 mảnh ni lon (trong đó có 06 mảnh ni lon màu hồng, 01 mảnh ni lon màu xanh, 01 mảnh ni lon màu trắng) và 01 lọ nhựa màu đỏ, có nắp đậy, đây là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội cần phải tịch thu tiêu hủy.

Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Lai Châu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/06/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.

3. Về án phí: Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lỳ Lé S.

Án xử công khai, có mặt bị cáo; bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ