- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Dương Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2022/HS-ST Ngày 26-12-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lƣơng Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Mạnh Sằn
Ông Nguyễn Hoàng Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Phƣơng Trang – Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 92/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Dƣơng Văn B (tên gọi khác: Không). Sinh ngày 20/4/1987 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Tự do; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và chỗ ở: Thôn H, xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dƣơng Văn L và bà Hoàng Thị L; vợ, con: Chƣa có; tiền án: Có 02 tiền án:
+ Bản án số 11/2018/HSST, ngày 29/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 14 (mƣời bốn) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; đã chấp hành xong hình phạt, chƣa đƣợc xóa án tích.
+ Bản án số 09/2020/HS-ST ngày 20/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 (ba) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; đã chấp hành xong hình phạt ngày 04/8/2022, chƣa đƣợc xóa án tích.
Tiền sự: Không có; nhân thân: Đã bị xử lý hình sự, chƣa đƣợc xóa án tích; chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính; chƣa bị xử lý kỷ luật. Bị tạm giữ từ ngày 29/9/2022, tạm giam từ ngày 01/10/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn H, xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Hồ Hữu H, sinh năm 1954. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 11 giờ ngày 29/9/2022, tổ công tác Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khối 10, thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Dƣơng Văn B có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác tiến hành kiểm tra thu giữ trong ngƣời Dƣơng Văn B 01 (một) gói nilon màu xanh bọc bên trong là 02 (hai) gói giấy màu trắng có dòng kẻ chứa các chất bột màu trắng nghi là ma túy, Dƣơng Văn B khai nhận đây là chất ma túy. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và đƣa Dƣơng Văn B cùng toàn bộ số tang vật về trụ sở để điều tra làm rõ.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) gói nilon màu xanh bọc bên trong là 02 (hai) gói giấy màu trắng có dòng kẻ chứa các chất bột màu trắng nghi là ma túy; 01 (một) điện thoại di động nhãn nhiệu Samsung màu ghi, cũ đã qua sử dụng số IMEI 1: 3552130940765; IMEI 2: 3552130940763; 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA màu đen biển kiểm soát 12D1-263.**, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 347/KL-KTHS, ngày 01/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận phong bì ghi chữ "QUẢ TANG DƢƠNG VĂN B": Chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lƣợng 0,229 gam (đã trừ bì).
Tại Cơ quan điều tra, Dƣơng Văn B khai nhận do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 10 giờ ngày 29/9/2022, Dƣơng Văn B điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 12D1- 26318 đến khu vực ngã tƣ Mỹ Sơn, phƣờng Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn để gặp một ngƣời đàn ông (không rõ tên, địa chỉ cụ thể) và hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy. Ngƣời đàn ông này đồng ý và bán cho Dƣơng Văn B 02 gói nhỏ ma túy. Sau khi mua đƣợc ma túy, Dƣơng Văn B cất ma túy vào túi quần bên trái và điều khiển xe về đến khu vực khối 10, thị trấn Cao Lộc thì bị phát hiện bắt quả tang nhƣ đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 23/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Dƣơng Văn B về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ Cáo trạng đã truy tố: Bị cáo khai nhận bản thân là ngƣời sử dụng ma túy từ năm 2016. Khoảng 10 giờ ngày 29/9/2022 bị cáo đi xe máy biển kiểm soát 12D1 - 263** đến khu vực ngã tƣ Mỹ Sơn, phƣờng Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn gặp 01 ngƣời đàn ông hành nghề xe ôm (không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ) để hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy Heroine, ngƣời đàn ông đồng ý và đƣa cho bị cáo 02 (hai) gói ma túy, mục đích bị cáo mua ma túy về để sử dụng. Sau khi mua đƣợc ma túy, Dƣơng Văn B điều khiển xe về khu vực khối 10, thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lƣợng Công an bắt quả tang.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Dƣơng Văn B từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù giam.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng có chữ "QUẢ TANG DƢƠNG VĂN B" bên trong có 0,210 gam chất ma túy Heroine (phần hao hụt do làm mẫu giám định). Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn nhiệu Samsung màu ghi, cũ đã qua sử dụng số IMEI 1: 3552130940765; IMEI 2: 3552130940763; trả lại cho bà Hoàng Thị L 01 (một) xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA màu đen, biển kiểm soát 12D1 - 26318 đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện sự ăn năn, hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Dƣơng Văn B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Dƣơng Văn B có hành vi tàng trữ trái phép 0,229 gam Heroine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo đã tái phạm lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Dƣơng Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về các chất ma túy, gây ảnh hƣởng xấu cho xã hội, là một trong các nguyên nhân gây phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phƣơng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng để thõa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo là ngƣời có 02 tiền án: 01 (một) tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 01 (một) tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy chƣa đƣợc xóa án tích nên lần phạm tội này đƣợc coi là tình tiết định khung tăng nặng "tái phạm nguy hiểm". Tuy nhiên, do đã áp dụng tình tiết định khung tăng nặng tại điểm 0 khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 nên không áp dụng tình tiết tăng nặng "tái phạm nguy hiểm" theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo. Vì vậy, xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo đƣợc áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Về nhân thân: Bị cáo đã 02 lần bị Tòa án xét xử chƣa đƣợc xóa án tích, nhƣng lại tiếp tục phạm tội, do vậy xác định bị cáo là ngƣời có nhân thân xấu.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, đã tái phạm lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo không chịu khó rèn luyện, tu dƣỡng, không có ý thức chấp hành pháp luật. Do vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tƣơng xứng với hành vi phạm tội để răn đe đối với bị cáo cũng nhƣ phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là ngƣời nghiện ma túy, bản thân không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,210 gam Heroine còn lại sau khi giám định thu giữ của bị cáo là vật cấm tàng trữ, lƣu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA màu đen, biển kiểm soát 12D1 - 26318, đã qua sử dụng tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa xác định xe mô tô là tài sản của bà Hoàng Thị L (mẹ đẻ của bị cáo Dƣơng Văn B). Bị cáo mang xe đi đâu, làm gì bà Hoàng Thị L không biết. Do đó xác định xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen, biển kiểm soát 12D1 - 263** không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Hoàng Thị L. Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn nhiệu Samsung màu ghi, cũ đã qua sử dụng số IMEI 1: 3552130940765; IMEI 2: 3552130940763 bị cáo khai nhận chỉ sử dụng liên lạc với ngƣời thân trong gia đình, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo định của pháp luật.
Đối với ngƣời đàn ông bán ma túy cho Dƣơng Văn B tại khu vực ngã tƣ Mỹ Sơn, thuộc phƣờng Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Do Dƣơng Văn B không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của Dƣơng Văn B không còn tài liệu nào khác nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đủ cơ sở xác minh làm rõ, Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Dƣơng Văn B 06 (sáu) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/9/2022.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Dƣơng Văn Ba.
3. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng có chữ "QUẢ TANG DƢƠNG VĂN B" có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 gói giấy đựng 0,210 gam chất ma túy Heroine (phần hao hụt do làm mẫu giám định) và các vỏ bao gói cũ (gồm 02 mảnh giấy màu trắng, 01 mảnh nilon màu xanh).
- Trả lại cho bị cáo Dƣơng Văn B 01 (một) điện thoại di động nhãn nhiệu Samsung màu ghi, cũ đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bà Hoàng Thị L 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen, biển kiểm soát 12D1 - 26318.
(Cụ thể, chi tiết từng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).
4. Về án phí: Bị cáo Dƣơng Văn B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nƣớc.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tƣ pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS huyện Cao Lộc; - Bị cáo; ngƣời có QL, NV liên quan đến vụ án; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lƣơng Thị Mỹ Hạnh |