- Tranh chấp gì? án hình sự — "LANG QUỐC Đ - TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu, tiêu hủy 3 g (Ba gam) Heroin, mảnh bao nilon màu hồng, một bao cao su đã qua sử dụng cùng vỏ bao niêm phong cũ được niêm phong trong phong bì dán kín.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật TTHS và Nghị
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU NGHỆ AN Bản án số: 95/2022/HS-ST Ngày 22 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Bá Lịch và ông Hà Văn Đức.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lô Văn Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu - tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Hoàng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tiến hành xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2022/TLST - HS ngày 07 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2022/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: L V Q. Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 01 tháng 7 năm 1998 tại huyện Q C, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Bản K M, xã C B, huyện Q C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 4/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông L V C (đã chết) và bà V T H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án - Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/8/2022 đến ngày 28/8/2022 và bị tạm giam từ ngày 28/8/2022 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án có nội dung tóm tắt như sau: L V Q là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 19/8/2022, Q đón xe khách lên huyện Q P, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại khu vực xã M N, huyện Q P, Q gặp và mua được của một người phụ nữ không quen biết 01 gói ma túy được bọc bằng mảnh nilon màu hồng với số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, Q bỏ vào trong bao cao su đã chuẩn bị từ trước rồi nhét vào hậu môn nhằm tránh bị phát hiện, sau đó đón xe khách quay về. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi xe khách đi đến địa phận Khối 2, thị trấn T L, huyện Q C thì gặp Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ ra tín hiệu dừng xe và yêu cầu Q xuống để kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra đã phát hiện gói ma tuý Q dấu trong hậu môn. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa L V Q về trụ sở Công an huyện Quỳ Châu để làm việc.
Tại Kết luận giám định số 1107/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 27/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của L V Q gửi đến giám định là ma túy (Heroin). Số chất rắn màu trắng thu giữ của L V Q có khối lượng là 3,7 g (ba phẩy bảy gam).
Trên cơ sở đó, Cáo trạng số 95/CT-VKS-QC ngày 07/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An đã quyết định truy tố L V Q ra trước Tòa án để xét xử về tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy’’ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo L V Q từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điều 106; khoản 2 điều 136 BLTTHS và NQ số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại, mảnh bao nilon màu vàng, bao cao su đã qua sử dụng cùng vỏ bao niêm phong cũ và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Về cơ bản đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn này.
[2] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa đã xác định được bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy nên vào ngày 19/8/2022 đã lên huyện Q P, tỉnh Nghệ An mua được 01 gói Heroin với giá 2.000.000đ (Hai triệu đồng) với mục đích đem về để sử dụng. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi bị cáo đang trên xe khách quay về nhà thì bị Công an phát hiện, bắt giữ đồng thời thu giữ tại bị cáo 01 gói ma túy dạng rắn. Căn cứ Kết luận giám định số 1107/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 27/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An thì mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của L V Q gửi tới giám định là ma túy (Heroin) và có khối lượng là 3,7 g (ba phẩy bảy gam).
Quá trình xét xử tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ vụ án cũng như vật chứng thu giữ đã được thẩm tra, xem xét. Có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo L V Q đã phạm tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm đã hoàn thành và do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và các trách nhiệm khác liên quan tương ứng theo quy định của pháp luật. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Qùy Châu truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS là có căn cứ.
Đối với người phụ nữ ở xã M N, huyện Q P là người đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa không xác định được danh tính, lai lịch, địa chỉ cụ thể nên chưa có cơ sở để xem xét, xử lý.
[3] Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có nhận thức nhất định về pháp luật nhưng do thiếu ý thức tu dưỡng, không chịu khó làm ăn và không tuân thủ quy định của pháp luật nên đã sớm đi vào con đường nghiện ngập và từ đó dẫn đến vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách chủ động, do đó phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi phạm tội của bản thân.
[4] Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS để vận dụng xử phạt bị cáo khi lượng hình. Tại phiên Toà, bị cáo trình bày có ông nội là người có công được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương, tuy nhiên không có tài liệu chứng minh nên không được chấp nhận. Cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng để làm bài học răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Hình phạt bổ sung: Khoản 5 điều 249 BLHS quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ…hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên xét thấy bản thân bị cáo thuộc đối tượng dân tộc thiểu số, sống ở miền núi cao, hoàn cảnh khó khăn, không có khả năng thi hành án. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và không tịch thu tài sản đối với bị cáo.
[6] Xử lý vật chứng: Qúa trình điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 gói Heroin có khối lượng 3,7 g (Ba phẩy bảy gam), đã trích 0,7 gram để phục vụ cho công tác giám định, còn lại 3 gam cùng các mảnh vỏ bao niêm phong cũ. Cần căn cứ điều 47 BLHS và khoản 2 điều 106 BLTTHS để tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật TTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt L V Q 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/8/2022.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu, tiêu hủy 3 g (Ba gam) Heroin, mảnh bao nilon màu hồng, một bao cao su đã qua sử dụng cùng vỏ bao niêm phong cũ được niêm phong trong phong bì dán kín. Có đặc điểm như mô tả trong Biên bản giao, nhận vật chứng được lập vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 07/11/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Qùy Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc L V Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo, được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Công an huyện Quỳ Châu; - VKSND huyện Quỳ Châu;VKSND tỉnh Nghệ An. - Bộ phận HSNV Công an huyện Qùy Châu; - Phòng KTNV&THA - TAND tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện Qùy Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; -UBND xã Châu Bình, Quỳ Châu, Nghệ An; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | Võ Văn Dũng |