vanban.org

Bản án 95/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 09/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Võ Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Võ Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 9 năm 2022. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ đức T tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Võ Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Võ Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2022/HS-ST
Ngày: 09/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hảo Phát.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồng Phúc;

Ông Nguyễn Văn Còn.

- Thư ký phiên toà: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: ông Ngô Minh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã An Thạnh, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/HS-ST ngày 19 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Võ Đức T, sinh năm 1989, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: khu phố 2, thị trấn B, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Hoàng A (chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ: Nguyễn Ngọc Q; con: có 01 người sinh năm 2016; Tiền án: không có; tiền sự: không có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/9/2022, tạm giam từ ngày 15/9/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Cầu. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 09/9/2022, tại quán cà phê Thanh Tuyền thuộc ấp C, xã A, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Bến Cầu phối hợp cùng Công an xã A, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang Võ Đức T đang cầm trên tay 01 bịch nylon trong suốt hàn kín 03 đầu, 01 đầu có khóa bóp, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (nghi là chất ma túy). Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên khoảng 15 giờ 00 phút ngày 09/9/2022, Võ Đức T đi bộ đến khu vực cây xăng 33 thuộc khu phố 2, thị trấn B, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh gặp 01 người đàn ông tên T (không rõ lai lịch) hỏi mua 01 bịch chất ma túy giá 100.000 đồng để sử dụng. Sau khi nhận chất ma túy từ Tèo, T cất giấu vào người và thuê xe ôm đến quán cà phê Thanh Tuyền thuộc ấp C, xã A, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh do anh Trần Trung N làm chủ để sử dụng. Tại quán cà phê Thanh Tuyền, T lấy bịch chất ma túy ra để sử dụng thì Công an đến kiểm tra và bắt quả tang.

Kết luận giám định số 1130/KL-KTHS, ngày 13/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon trong suốt hàn kín ba đầu, một đầu khóa bóp viền đỏ (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,4193 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định là 0,3626 gam.

Ngày 09/9/2022, kiểm tra nồng độ chất ma túy, phát hiện Võ Đức T có kết quả dương tính với chất ma túy.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Có bản kê kèm theo.

Võ Đức T không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

Tại bản cáo trạng số: 92/CT-VKSBC ngày 19 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố Võ Đức T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Võ Đức T đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố, bị cáo Võ Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Đức T từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; đồng thời áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng trong vụ án theo quy định pháp luật.

Bị cáo T thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa.

Bị cáo T nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo ăn năn hối cải, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Cầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và áp dụng điều luật: Hồi 16 giờ 30 phút ngày 09/9/2022, tại quán cà phê Thanh Tuyền thuộc ấp C, xã A, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Võ Đức T cất giấu 0,4193 gam chất ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó hành vi của Võ Đức T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất vụ án: Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, bị cáo T là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Việc tàng trữ và sử dụng ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho cho bản thân, gia đình và xã hội là một trong những nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội và tội phạm, nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

+ Tình tiết tăng nặng: không có.

+ Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Áp dụng hình phạt: Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo T là có căn cứ. Bởi lẽ, bị cáo là người nghiện ma túy, phạm tội nghiêm trọng do vậy cần áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân biết chấp hành pháp luật.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo, do không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Cầu chưa làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Võ Đức T, Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt hành chính theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) gói niêm phong vụ số 1130/KL-KTHS (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) là ma tuý và 01 (một) dụng cụ sử dụng ma túy dạng bình nhựa có dòng chữ Pepsi, có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có 01 (một) ống hút nhựa màu trắng và 01 (một) ống thủy tinh gắn vào nắp đậy màu đỏ nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Võ Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Võ Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 9 năm 2022.

2. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong vụ số 1130/KL-KTHS (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) và 01 (một) dụng cụ sử dụng ma túy dạng bình nhựa có dòng chữ Pepsi, có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có 01 (một) ống hút nhựa màu trắng và 01 (một) ống thủy tinh gắn vào nắp đậy màu đỏ.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, bị cáo Võ Đức T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ