- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Ngọc S - Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng - phạm tội chế tao, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí…"
- Tòa quyết gì? Điểm a kho n 2 Điều 106; kho n 2 Điều 135; kho n 2 Điều 136; các Điều 293, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| B n án số: 95/2022/HS-PT Ngày: 18 - 8 -2022 |
NHÂN DANH
ƯỚC C
XÃ H I CH
T NAM
ÁN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phước Hiệu.
Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Hùng và ông Nguyễn Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Khuê, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 82/2022/TLPT-HS ngày 13 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo Bùi Ngọc S do có kháng cáo của bị cáo đối với B n án hình sự sơ thẩm số: 26/2021/HS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ tên: Bùi Ngọc S, sinh năm 1984; Nơi sinh: xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: tổ 3, thôn 1, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Cha: Bùi Ngọc L, sinh năm 1950, hiện cư trú tại xã Đ1, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Mẹ: Trần Thị S1, sinh năm 1955, hiện cư trú tại tổ 3, thôn 1, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Gia đình có 03 anh em, Bùi Ngọc S là con thứ 2; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang được tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 42/2022/HSST-LCĐKNCT, ngày 17/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ. Có mặt.
Ụ :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào kho ng tháng 5/2021, Bùi Ngọc S xem trên trang Youtube cách lắp ráp, sử dụng những loại súng săn, súng hơi bắn đạn bi sắt. S thấy tài kho n Youtube giới thiệu những cây súng Rulo bắn đạn bi sắt bằng khí nén CO2 nên đặt mua 01 khẩu súng Rulo bắn đạn bi sắt bằng khí nén CO2, tầm bắn kho ng 5 – 7m với giá 450.000 đồng và kho ng 02 kg đạn bi sắt với giá 120.000 đồng. Do khẩu súng đặt mua còn thiếu bình khí nén C02, nên hai bên thỏa thuận khi nào có bình khí nén C02 sẽ tiếp tục mua với giá 200.000 đồng để lắp vào súng Rulo trên sử dụng. Bùi Ngọc S nhận súng và đạn bi sắt thông qua một người không rõ danh tính theo xe khách Bắc – Nam (không rõ biển số) tại Ngã 3 Ô thuộc huyện X, tỉnh Đồng Nai. Sau khi nhận được súng, S đem về nhà cất giấu chờ tiếp tục mua thêm bình khí nén C02 để lắp vào sử dụng.
Ngoài ra, trước tết Âm lịch năm 2021, cũng qua trang Youtube, Bùi Ngọc S xem các video hướng dẫn làm thuốc nổ tự chế theo tỷ lệ: 7 phần chất Kali Clorat (KClO3), 3 phần bột than, 1 phần bột nhôm, 3 phần lưu huỳnh (S). Bùi Ngọc S đặt trên mạng mua hai lần, lần 1 mua 1.000 gam bột Kali Clorat với giá 150.000 đồng; kho ng 300 – 500 gam lưu huỳnh với giá 200.000 đồng. Lần 2 mua 300 gam bột nhôm với giá 300.000 đồng. Sau khi nhận được các hóa chất trên, Bùi Ngọc S lấy 3kg than cục có sẵn tại nhà nghiền nhuyễn, dùng xô nhựa màu đỏ để trộn theo tỷ lệ như hướng dẫn trên trang Youtube. Tuy nhiên, trong quá trình trộn do nhiều bụi nên S không làm đúng theo định lượng mà bỏ các chất bột than, bột nhôm, bột Kali Clorat, lưu huỳnh vào xô nhựa đỏ để trộn. Số bột than và bột nhôm còn thừa, S cho vào 01 túi nylon bỏ vào thùng giấy kích thước: (20cm x 20cm x 15cm).
Sau khi trộn thành thuốc nổ, Bùi Ngọc S dùng giấy báo cũ cắt lấy khổ rộng kho ng 10cm quấn quanh chiếc đũa kho ng 10 lớp, dùng keo dán sắt dán kín một đầu, cho thuốc nổ tự tạo vào rồi nén chặt, ngòi dẫn cháy thì dùng giấy bóng nylon cuộn chặt một ít thuốc nổ tự tạo rồi đặt ngòi dẫn cháy vào đầu còn lại của qu nổ rồi tiếp tục dùng keo dán sắt dán chặt. Ngoài cách làm loại qu nổ trên, Bùi Ngọc S còn mua ống nhựa PVC, dài 10cm, đường kính 42cm và 02 nắp nhựa bịt kín hai đầu với giá 5.000 đồng về cho thuốc nổ tự tạo vào, khoan lỗ trên nắp nhựa để đưa dây dẫn cháy vào trong và dùng keo dán cố định bên ngoài. Bùi Ngọc S tạo được 02 qu nổ bằng giấy và 01 qu nổ bằng nhựa, S đem 02 qu nổ bằng giấy ra ngoài đồng đốt thử thì tạo ra tiếng nổ lớn. Do sợ bị Công an phát hiện nên S đem số thuốc nổ còn lại trong xô nhựa màu đỏ, 01 qu nổ làm bằng ống nhựa PVC cùng thùng giấy đựng các hóa chất để tạo thuốc nổ cất giấu tại nhà mình.
Ngày 25/8/2021, Công an xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận trong lúc truy đuổi đối tượng chơi đá gà lẩn trốn tại nhà của Bùi Ngọc S đã phát hiện tại nhà của S có nhiều súng săn, đạn chì nên báo cho Công an huyện Đ xử lý.
Tại Biên b n khám nghiệm hiện trường ngày 25/8/2021 của Cơ quan C nh sát điều tra Công an huyện Đ, xác định:
Hiện trường nhà ông Bùi Ngọc S là nhà cấp 4 có hàng rào bọc xung quanh, nhà không có cổng chính. Ngôi nhà gồm: 01 nhà trên, 01 nhà dưới, 01 phòng ngủ, 01 phòng để đồ.
Nhà trên có kích thước (5m80 x 5m30), có cửa chính (02 cánh, bằng gỗ). Trên nền nhà trên, tại vị trí cách mép cửa chính bên trái (phía trong nhà nhìn ra) 2m8, phát hiện 01 thùng nhựa màu đỏ có chiều cao 24cm, đường kính miệng thùng là 27cm bên trong thùng có chất bột màu xám đen và 01 thùng giấy kích thước (20cm x 20cm x 15cm) bên trong thùng có chất bột màu xám đen. Cơ quan C nh sát điều tra, Công an huyện Đ xác định chất bột màu xám đen, thùng nhựa màu đỏ, thùng giấy nêu trên có tổng trọng lượng 3,3kg.
Tại góc tường hướng Tây Bắc của nhà trên có 01 cái giường bằng gỗ kích thước (2m08 x 1m28 x 0m73). Trên giường phát hiện 01 cây súng ngắn (dạng súng rulo) màu trắng, ốp tay cầm màu nâu, trên cây súng có chữ 19TH0679, bên trong súng không có đạn; 01 ống nhựa hình trụ, tròn (dạng ống nước) kích thước 10cm x 5cm 50, hai đầu được bịt kín bởi 02 nắp nhựa, 01 đầu nhựa có 01 đoạn dây nối từ trong ra ngoài; 01 hộp nhựa kích thước (11cm x 8cm x 4 cm) bên trong có chứa nhiều viên kim loại màu đen không rõ hình dạng; nhiều ống kim loại màu và có cùng kích thước cao 1cm50, đường kính 0cm50, một đầu được hàn kín và một số vật chứng khác.
Cơ quan C nh sát điều tra - Công an huyện Đ đã tiến hành thu giữ: 01 (một) cây súng màu đen có chiều dài là 0m90, trên súng có ghi chữ Fxairguns; 01 (một) cây súng màu đen có chiều dài là 1m05, trên súng có ghi chữ Fxairguns; 01 (một) cây súng màu đen có chiều dài là 0m91, không rõ nhãn hiệu, trên cây súng có gắn 01 ống nhòm; 01 (một) cây súng ngắn (dạng súng rulo) màu trắng, ốp tay cầm màu nâu, trên cây súng có ghi chữ 19TH0679, bên trong súng không có đạn; 01 (một) ống nhòm; 01 (một) bình n n khí; 02 (hai) báng súng bằng gỗ; 01 (một) báng súng bằng kim loại; 07 (b y) ống kim loại hình trụ tròn; 12 (mười hai) hộp nhựa bên trong có chứa nhiều viên kim loại màu đen (đạn chì); 02 (hai) bịch ni lông bên trong có chứa nhiều viên kim loại hình cầu (đạn chì); 11 (mười một) ống kim loại màu vàng có cùng kích thước cao 1cm50, đường kính 0cm50, một đầu được hàn kín; 01 (một) thùng nhựa màu đỏ có chiều cao 24cm, đường kính ở miệng thùng là 27cm, bên trong thùng có chứa chất bột màu xám đen; 01 thùng giấy kích thước (20cm x 20cm x 15cm), bên trong thùng có chứa chất bột màu xám đen; 01(một) ống nhựa hình trụ, tròn, dạng ống nước, chiều dài 11cm, đường kính 4,9cm; 02 đầu ống nhựa được bịt kín bởi 02 nắp nhựa, 01 đầu nắp nhựa có 01 đoạn dây nối từ trong ra ngoài; 01(một) qu có dạng hình cầu đã được tách ra bên trong chứa chất bột màu xám đen; 01 (một) máy bơm khí n n màu xanh không rõ nhãn hiệu; 01 (một) máy bơm khí n n màu cam trên máy có ghi chữ FALCON 0-40MOA; 01(một) bơm khí n n bằng tay không rõ nhãn hiệu; 02 (hai) cái nỏ tự chế có màu xanh đen; 01 (một) bộ dụng cụ gồm: kiềm, búa, kéo, cờ lê, cưa sắt…; 01 (một) hộp giấy bên trong có nhiều sợi dây thun màu đen; 01 (một) tay bóp cò; 01(một) thau kim loại, bên trong có nhiều linh kiện bằng kim loại.
Ngoài ra, ngày 03/12/2021 Bùi Ngọc S giao nộp cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bình Thuận 01 con dao mèo, lưỡi bằng kim loại dài 25cm, cán bằng gỗ dài 12cm, phần đầu cán dao bằng kim loại màu vàng, phần đuôi cán dao được khoan 01 lỗ và luồn 02 ống kim loại màu vàng gắn cố định bên trong (đường kính 05cm).
Tại B n Kết luận giám định số: 3963/1/C09B ngày 29/9/2021 của Phân viện Khoa học hình sự - Bộ Công an tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- 03 (ba) khẩu súng dài lần lượt là 0,90m, 1,05m, 0,91m là súng hơi, thuộc danh mục súng săn, sử dụng khí n n để bắn đạn chì; không ph i là vũ khí quân dụng.
- 01(một) khẩu súng ngắn là vũ khí chế tạo thủ công, có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng (thuộc danh mục vũ khí quân dụng); sử dụng đạn thể thao cỡ (5,6 x 15)mm, bắn phát một, nạp đạn bằng ổ quay.
- Bộ phận “báng súng bằng kim loại” là một khẩu súng hơi hoàn chỉnh, hiệu ATAMAN AP16, thuộc danh mục súng săn; không ph i là vũ khí quân dụng.
- Sử dụng các khẩu súng nêu trên bắn vào cơ thể người có thể gây thương vong.
- Các loại đạn, vỏ đạn gửi giám định, trong đó:
- Các viên kim loại hình nấm, hình cầu là đạn chì, đạn bi, sử dụng cho súng hơi; không ph i là đạn quân dụng.
- 11 (mười một) ống kim loại màu vàng là vỏ của đạn thể thao cỡ (5,6 x 15)mm, không ph i là vỏ đạn quân dụng.
- Các bộ phận gồm: 01 (một) ống nhòm, 01 (một) bình khí nén, 02 (hai) báng súng bằng gỗ, 07 (b y) ống kim loại hình trụ tròn, không thể lắp ráp thành khẩu súng hoàn chỉnh.
Tại B n Kết luận giám định số: 49/C09B ngày 08/12/2021 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Tp. Hồ Chí Minh, xác định:
- 11 (mười một) vỏ đạn gửi giám định là vỏ đạn đã được bắn (có dấu vết kim hỏa).
- 11 (mười một) vỏ đạn trên không được bắn ra từ khẩu súng gửi giám định.
- 11 (mười một) vỏ đạn trên chế tạo thành viên đạn hoàn chỉnh thì sử dụng để bắn được.
Tại Công văn số: 139/C09B ngày 16/02/2022 của Phân viện KHHS tại thành phố Hồ Chí Minh việc gi i thích nội dung kết luận giám định liên quan đến vật chứng là 01 (một) khẩu súng ngắn (dạng súng rulo) màu trắng, ốp tay cầm màu nâu, trên cây súng có ghi chữ 19TH0679. Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an, xác định:
- “Khẩu súng ổ quay gửi giám định có đầy đủ các bộ phận, bắn được đạn nổ và có cơ chế hoạt động như sau: sau khi được nạp đạn vào ổ quay (buồng đạn), bóp cò, búa đập vào kim hỏa, kim hỏa đập vào hạt nổ; đạn nổ, dưới áp lực cháy của thuốc phóng đầu đạn được đẩy ra khỏi nòng súng”;
- “Nếu tháo bỏ kim hỏa, ống gắn lò xo kim hỏa; thay thế các bộ phận hiện tại của khẩu súng trên bằng các bộ phận của khẩu súng đồ chơi nguy hiểm sử dụng khí n n đạn bi 6mm như: ổ quay, ống gắn đạn, bộ phận dẫn khí, hệ thống van và bình khí nén thì khẩu súng trên có thể bắn được đạn bi sắt 6mm”.
Tại B n Kết luận giám định số 3963/C09B ngày 18/10/2021 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- Chất bột màu xám đen đựng trong xô nhựa màu đỏ và 01 (một) túi nylon chứa chất bột màu xám đen gửi giám định đều là hỗn hợp thuốc nổ đen, thuộc nhóm vật liệu nổ.
- 01 túi nylon chứa chất bột màu trắng bạc gửi giám định là bột nhôm, không thuộc nhóm vật liệu nổ.
- 01 (một) ống nhựa hình trụ tròn (dạng ống nước) dài 11cm, đường kính 4,9cm, hai đầu ống nhựa được bịt kín bởi 02 nắp nhựa, một đầu nắp nhựa có 01 đoạn dây nối từ trong ra ngoài gửi giám định là qu nổ tự tạo. Bên trong có thuốc nổ đen, thuộc nhóm vật liệu nổ.
- 01 (một) vật dạng hình cầu được bó trong bịch nylon, qu cầu được bao bằng giấy có chu vi là 33cm, một đầu có 01 dây, một đầu có dán 01 bịch nylon bên trong có chứa chất màu đen gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ).
Tại B n Kết luận giám định số: 548/C09B ngày 19/01/2022 của Phân viện KTHS tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- Khối lượng chất bột màu xám đen được đựng trong 01 (một) xô nhựa màu đỏ có chiều cao 24cm, đường kính miệng thùng 27cm gửi đến giám định là 1530,5g.
- Khối lượng chất bột màu xám đen trong 01 (một) túi nylon được đựng trong 01 hộp giấy, kích thước: 20cm x 20cm x 15cm gửi giám định là 1014,9g.
- Khối lượng chất bột màu xám đen được đựng trong 01 (một) ống nhựa, kích thước: 10cm x 5cm50, hai đầu được bịt kín bởi 02 nắp nhựa, một đầu nắp nhựa có 01 đoạn dây nối từ trong ra ngoài gửi đến giám định là 92,3g.
- Khối lượng vật liệu nổ đã được trích ra để thực hiện giám định theo Quyết định trưng cầu giám định số: 150 ngày 17/9/2021 của Cơ quan c nh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Bình Thuận kho ng 30g.
- Hỗn hợp thuốc nổ đen (thuộc nhóm vật liệu nổ) như trên có chứa thành phần chính gồm: Kali Clorat (KClO3), lưu huỳnh S, bột than và bột nhôm.
- Hỗn hợp thuốc nổ đen thường được sử dụng trong các loại đạn, pháo nổ…
- Không đủ cơ sở để xác định sức công phá của mẫu vật gửi giám định.
Việc thu giữ, xử lý vật chứng:
- 01 (một) khẩu súng ngắn (dạng súng rulo) màu trắng, ốp tay cầm màu nâu, trên cây súng có ghi chữ 19TH0679 (bên trong súng không có đạn).
- 01 (một) xô nhựa màu đỏ chiều cao 24cm, đường kính miệng thùng 27cm. Bên trong chứa: 02 (hai) bịch nylon có chứa chất bột màu xám đen; 01 (một) bịch nylon có chứa bột nhôm; 01 (một) ống nhựa, kích thước: 10cm x 5cm50, hai đầu được bịt kín bởi 02 nắp nhựa; 01 (một) bịch nylon chứa chất bột được trích ra từ ống nhựa trên.
Số vật chứng trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận ra Quyết định chuyển vật chứng, chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Bình Thuận để b o đ m việc xét xử và thi hành án.
Tại B n án hình sự sơ thẩm số: 26/2022/HS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ quyết định:
Căn cứ vào:
Kho n 1 Điều 304; kho n 1 Điều 305; điểm s kho n 1 kho n 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50; Điều 55; Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Điểm a kho n 2 Điều 106; kho n 2 Điều 135; kho n 2 Điều 136; các Điều 293, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Điểm a kho n 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Ngọc S, phạm tội tàng trữ trái ph p vũ khí quân dụng và tội chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ.
- Về hình phạt: Xử phạt Bùi Ngọc S 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và 01 năm 03 tháng tù về tội chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo ph i chấp hành hình phạt của hai tội là 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
- Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 khẩu súng ngắn (dạng súng rulo) màu trắng, ốp tay cầm màu nâu, trên cây súng có ghi chữ 19TH0679 (bên trong súng không có đạn); 01 xô nhựa màu đỏ chiều cao 24cm, đường kính miệng thùng 27cm. Bên trong chứa: 02 bịch nylon có chứa chất bột màu xám đen; 01bịch nylon có chứa bột nhôm; 01 ống nhựa, kích thước: 10cm x 5cm50, hai đầu được bịt kín bởi 02 nắp nhựa; 01 bịch nylon chứa chất bột được trích ra từ ống nhựa.
Số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh Bình Thuận theo biên b n giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/4/2022 giữa quan An ninh điều tra – Công an tỉnh Bình Thuận với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Ngoài ra, b n án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 30/5/2022, bị cáo Bùi Ngọc S có đơn kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo S vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc gi i quyết vụ án:
B n án sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Ngọc S về tội “Tàng trữ trái ph p vũ khí quân dụng và tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ.” theo kho n 1 Điều 304 và kho n 1 Điều 305 BLHS là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào nhân thân và áp dụng các tình tiết gi m nhẹ cho bị cáo như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối c i; phạm tội lần đầu, gia đình có công với cách mạng và xử phạt mức án 03 năm 03 tháng từ cho 02 tội là tương xứng, không nặng. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình giấy xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn c nh gia đình khó khăn, b n thân bị cáo có thành tích trong việc truy bắt tội phạm, là lao động chính trong gia đình và đang nuôi mẹ già. Đây là các tình tiết chưa được xem xét ở cấp sơ thẩm. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b kho n 1 Điều 355, điểm c kho n 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa b n án sơ thẩm theo hướng gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái ph p vũ khí quân dụng” là có căn cứ.
NH
ỊNH C A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Ngọc S được làm trong hạn luật định nên đủ điều kiện xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Ngọc S: Hội đồng xét xử thấy rằng, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Ngọc S khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm x t xử bị cáo về 02 tội “Tàng trữ trái ph p vũ khí quân dụng theo kho n 1 Điều 304 và tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo kho n 1 Điều 305 BLHS” là đúng, không oan. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và tuyên phạt bị cáo mức án 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái ph p vũ khí quân dụng và 01 năm 03 tháng tù về tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ là phù hợp, không nặng.
Tuy nhiên, xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây thiệt hại gì; mục đích của việc tàng trữ trái ph p vũ khí quân dụng và chế tạo, tàng trữ vật liệu nổ là nhằm săn bắt phục vụ nhu cầu sinh hoạt cho gia đình; gia đình bị cáo là gia đình có công với cách mạng, em trai bị cáo hiện đang làm nhiệm vụ b o vệ vùng trời biển đ o quê hương; Bị cáo có nhân thân tốt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo luôn thành khẩn, tỏ thái độ ăn năn hối c i. Ngoài ra, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp bổ sung tài liệu có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện: hoàn c nh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính và đang nuôi dưỡng mẹ già; bị cáo đã nhiều lần tham gia truy bắt tội phạm, thể hiện tinh thần trách nhiệm trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đây là các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự mới chưa được xem xét ở cấp sơ thẩm nên cần xem xét gi m nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
[4] Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không ph i chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾ ỊNH:
Căn cứ vào điểm b kho n 1 Điều 355, điểm c kho n 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Bùi Ngọc S và sửa B n án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ về hình phạt đối với bị cáo Bùi Ngọc S.
Căn cứ kho n 1 Điều 304; kho n 1 Điều 305; điểm s kho n 1 kho n 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50; Điều 55; Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Điểm a kho n 2 Điều 106; kho n 2 Điều 135; kho n 2 Điều 136; các Điều 293, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Điểm a kho n 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái ph p vũ khí quân dụng và tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
- Về hình phạt: Xử phạt Bùi Ngọc S 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái ph p vũ khí quân dụng” và 01 (một) năm tù về tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo ph i chấp hành hình phạt của hai tội là 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
2. Án phí phúc thẩm: Bị cáo Bùi Ngọc S không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 18/8/2022).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Phòng PV 06 - Công an tỉnh; - VKSND huyện;TAND huyện Đ; - Công an huyện; Chi cục THADS huyện Đ; - UBND xã T, huyện Đ; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Tổ HCTP, Hồ sơ vụ án. | N PHÚC – ı (đã ký) Trầ ước Hiệu |