- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành T - phạm tội chế tao, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật q…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 171/2017/HSST Ngày 13-7-2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hoàn
2. Bà Bùi Thị Kim Oanh
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Trọng Đại, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 184/2017/ HSST ngày 22 tháng 6 năm 2017 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 180/2017/HSST-QĐ ngày 03 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành T, sinh năm 1989 tại tỉnh Phú Yên; nơi cƣ trú: Khu phố H, thị trấn HV, huyện ĐH, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Mua bán, sữa chữa điện thoại; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Kim B, sinh năm 1962; bị cáo có 05 anh chị em ruột, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 13/3/2017, có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1977; thƣờng trú: đƣờng Nguyễn Văn C, khu phố B, phƣờng ĐN, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: Số 566 đƣờng NTS, Phƣờng B, quận GV, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
2. Ông Trịnh Đăng Đ, sinh năm 1986; thƣờng trú: Khu tập thể Phòng cảnh sát Cơ động Công an tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
3. Ông Trần Ngọc Kh, sinh năm 1995; thƣờng trú: Khu phố BT 1, phƣờng BA, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
4. Ông Mai Quốc Th, sinh năm 1994; thƣờng trú: Khu tập thể Trƣờng Đại học Cảnh sát, phƣờng TP, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
5. Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1995; thƣờng trú: Ấp M, xã HH, huyện BB, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
6. Ông Võ Minh T, sinh năm 1997; thƣờng trú: Ấp HĐ, xã LT, huyện DT, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng tháng 10/2016, Nguyễn Thành T quen với một ngƣời tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch) qua mạng xã hội. Q giới thiệu với T là Q đang sống ở Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và có bán sung bút với giá 500.000 đồng/cây. Ngày 12/3/2017, Nguyễn Thành T đón xe vào Thành phố Hồ Chí Minh mua linh kiện điện thoại nên T hẹn với Q mua 02 cây súng bút thì Q đồng ý.
Khoảng 07 giờ ngày 12/3/2017, T đi vào bến xe MĐ, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc này T sử dụng điện thoại di động Nokia 105 sim số 0908.591.060 gọi cho Q nhƣng không liên lạc đƣợc. T ra ngoài cổng bến xe MĐ uống nƣớc, tại đây T gặp một một ngƣời đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) chào bán súng bắn điện với giá 500.000 đồng/cây. T mua 03 cây súng bắn điện và 09 viên đạn súng điện của ngƣời đàn ông này với giá 1.500.000 đồng, mục đích bán lại cho ngƣời khác kiếm lời. Sau khi mua súng bắn điện, T bỏ tất cả vào ba lô và đón xe mô tô chở khách đến chợ NT, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh để đặt mua linh kiện điện thoại. Khi đến Quận M, T nhìn thấy một ngƣời đàn ông (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) bán linh kiện điện thoại và rất nhiều đồ cũ khác nhau tại ngã tƣ. T đến xem và mua 01 vỏ lựu đạn bằng kim loại màu đen có chiều dài khoảng 11,5cm, đƣờng kính 05cm bên ngoài có khía, 01 viên đạn cỡ (11,43 x 23) mm có ký hiệu RA66, 01 viên đạn cỡ (7,62 x 54) mm ký hiệu 10-54 với giá 50.000 đồng. Mua xong T cho tất cả vào túi đeo trƣớc bụng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Q điện thoại cho T hẹn đến đƣờng NVL, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để bán súng bút, T đón xe mô tô chở khách đến Quận B gặp Q, đến nơi Q bán cho T 02 khẩu súng bút, 01 ống giảm thanh súng bút, 01 viên đạn bắn súng bút với giá 1.000.000 đồng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T đón xe mô tô chở khách của anh Nguyễn Văn Th đi từ Thành phố Hồ Chí Minh để đi đến thị xã TU, tỉnh Bình Dƣơng thăm bạn. Khi anh Th chở T lƣu thông trên đƣờng ĐT743 thuộc khu phố TN 2, phƣờng DA, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng thì bị lực lƣợng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Bình Dƣơng kiểm tra phát hiện số tang vật nói trên nên lập biên bản bắt ngời có hành vi phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ: 02 đoạn kim loại hình trụ tròn dạng bút có ren vặn ở một đầu; 01 ống kim loại hình trụ tròn màu đen có ký hiệu CX.118; 03 cây súng bắn điện có ký hiệu FBQ2002-A (chữ tƣợng hình) và 09 viên đoạn bắn súng điện; 01 viên đoạn cỡ (5,6 x15,6) mm ký hiệu S &B; 01 viên đạn cỡ (11,43 x 23) mm có ký hiệu RA66, 01 viên đạn cỡ (7,62 x 54) mm ký hiệu 10-54; 01 vỏ lựu đạn có khía màu đen và 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen có sim số 0908.591.06.
Căn cứ kết luận giám định số 981/1/C54B ngày 12/4/2017 và kết luận giám định số 1441/C54B ngày 11/5/2017 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh của Tổng cục cảnh sát kết luận: 02 đoạn kim loại hình trụ tròn dạng bút màu trắng bạc có ren vặn ở một đầu dài khoảng 17cm là súng tự chế cở nòng 5,6mm, 02 cây súng này thuộc danh mục vũ khí quân dụng và hiện tại súng còn sử dụng để bắn đƣợc đạn nổ; 01 ống kim loại hình trụ tròn màu đen có ký hiệu CX.118 là ống giảm thanh sử dụng cho súng tự chế nêu trên; 03 cây súng bắn điện có ký hiệu FBQ2002-A (chữ tƣợng hình) và 09 viên đoạn bắn súng điện là súng bắn điện thuộc danh mục công cụ hổ trợ, hiện tại 03 khẩu súng này còn hoạt động đƣợc; 01 viên đoạn cỡ (5,6 x15,6) mm ký hiệu S&B, 01 viên đạn cỡ (11,43 x 23) mm có ký hiệu RA66, 01 viên đạn cỡ (7,62 x 54) mm ký hiệu 10-54 là đạn quân dụng và 01 vỏ lựu đạn có khía màu đen là lựu đạn giả có hình dáng giống kiểu lựu đạn huấn luyện trong quân sự, lựu đạn này không phải là vũ khí trong quân dụng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 981/1/C54B ngày 12/4/2017 và kết luận giám định số 1441/C54B ngày 11/5/2017 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh của Tổng cục cảnh sát.
Đối với hành vi vận chuyển công cụ hổ trợ gồm 03 cây súng bắn điện có ký hiệu FBQ2002-A (chữ tƣợng hình) và 09 viên đoạn bắn súng điện không có giấy phép, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã chuyển hồ sơ và tang vật sang đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an thị xã Dĩ An xử lý theo quy định.
Đối với đối ngƣời đàn ông tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch) và 02 ngƣời đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) đã bán vũ khí cho T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn Th không biết Nguyễn Thành T mang theo vũ khí quan dụng trong ngƣời nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không đề cập xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 189/QĐ-KSĐT ngày 12/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng” theo Khoản 1 Điều 230 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 230; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Khoảng 23 giờ ngày 12/3/2017, Nguyễn Thành T đón xe mô tô chở khách của anh Nguyễn Văn Th từ Thành phố Hồ Chí Minh về thị xã TU, tỉnh Bình Dƣơng. Khi anh Th chở T lƣu thông trên đƣờng ĐT743 thuộc khu phố TN 2, phƣờng DA, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng thì bị lực lƣợng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Bình Dƣơng kiểm tra phát hiện Nguyễn Thành T mang theo 02 súng quân dụng dạng bút tự chế cỡ nòng 5,6mm, 01 ống giảm thanh ký hiệu CX.118 sử dụng cho súng tự chế nêu trên; 03 cây súng bắn điện có ký hiệu FBQ2002-A (chữ tƣợng hình) và 09 viên đoạn bắn súng điện; 03 viên đạn quân dụng chƣa bắn cỡ (5,6 x15,6) mm ký hiệu S&B, cỡ (11,43x23) mm có ký hiệu RA66, cỡ(7,62 x 54) mm ký hiệu 10-54 và 01 vỏ lựu đạn có khía màu đen nên lập biên bản bắt ngƣời có hành vi phạm tội quả tang.
Căn cứ kết luận giám định số 981/1/C54B ngày 12/4/2017 và kết luận giám định số 1441/C54B ngày 11/5/2017 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh của Tổng cục cảnh sát kết luận: 02 đoạn kim loại hình trụ tròn dạng bút màu trắng bạc có ren vặn ở một đầu dài khoảng 17cm là súng tự chế cở nòng 5,6mm, 02 cây súng này thuộc danh mục vũ khí quân dụng và hiện tại súng còn sử dụng để bắn đƣợc đạn nổ; 01 ống kim loại hình trụ tròn màu đen có ký hiệu CX.118 là ống giảm thanh sử dụng cho súng tự chế nêu trên; 03 cây súng bắn điện có ký hiệu FBQ2002-A (chữ tƣợng hình) và 09 viên đoạn bắn súng điện là súng bắn điện thuộc danh mục công cụ hổ trợ, hiện tại 03 khẩu súng này còn hoạt động đƣợc; 01 viên đoạn cỡ (5,6 x15,6) mm ký hiệu S&B, 01 viên đạn cỡ (11,43 x 23) mm có ký hiệu RA66, 01 viên đạn cỡ (7,62 x 54) mm ký hiệu 10-54 là đạn quân dụng và 01 vỏ lựu đạn có khía màu đen là lựu đạn giả có hình dáng giống kiểu lựu đạn huấn luyện trong quân sự, lựu đạn này không phải là vũ khí trong quân dụng.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 230 Bộ luật Hình sự thì “Ngƣời nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phƣơng tiện kỹ thuật quân sự thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm”. Nhƣ vậy, hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Thành T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và ngƣời làm chứng trong quá trình điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã đƣợc thu thập có tại hồ sơ. Vũ khí quân dụng là nguồn nguy hiểm cao độ đối với xã hội chỉ có các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quản lý. Việc vận chuyển vũ khí quân dụng có thể gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng về ngƣời và tài sản. Nhƣ vậy, Cáo trạng số 189/QĐ-KSĐT ngày 22 tháng 6 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “ Vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng” theo Khoản 1 Điều 230 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo T hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm lớn cho xã hội, xâm hại đến trật tự công cộng và có thể xâm hại đến sức khỏe và tính mạng của công dân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tù tƣơng xứng với tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời có nhân thân xấu thể hiện bị cáo đã từng kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Không tố giác tội phạm” tuy đã đƣợc xóa án tích nhƣng bị cáo không lấy đó làm bài học để răn đe chính bản thân mình mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với hành vi vận chuyển công cụ hổ trợ gồm 03 cây súng bắn điện có ký hiệu FBQ2002-A (chữ tƣợng hình) và 09 viên đoạn bắn súng điện không có giấy phép, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã chuyển hồ sơ và tang vật sang đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an thị xã Dĩ An xử lý theo quy định.
Đối với đối ngƣời đàn ông tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch) và 02 ngƣời đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) tại địa bàn quận BT và Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh đã bán vũ khí cho T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn T không biết Nguyễn Thành T mang theo vũ khí quan dụng trong ngƣời nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không đề cập xử lý là đúng theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
- Xét 02 súng dạng bút tự chế cỡ nòng 5,6mmm, 01 ống giảm thanh ký hiệu CX.118 sử dụng cho súng tự chế nêu trên; 03 viên đạn cỡ (5,6 x15,6) mm ký hiệu S&B, cỡ (11,43 x 23) mm có ký hiệu RA66, cỡ (7,62 x 54) mm ký hiệu 10-54; 01 vỏ lựu đạn có khía màu đen là vũ khí quân dụng nên cần giao cho Thị đội Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xử lý theo thẩm quyền.
- Xét 01 điện thoại Nokia 105, sim số 0908.591.060 dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc và tiêu hủy.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đƣa ra đối với bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt, xử lý vật chứng. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 230; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 24 (hai mƣơi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2017.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự ; Khoản 1 và Điểm a Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Giao cho Thị đội Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xử lý theo thẩm quyền: 02 (hai) cây sung bút bằng kim loại, màu bạc, hình trụ tròn dạng bút có ren vặn ở một đầu; 01 (một) ống kim loại hình trụ tròn màu đen có ký hiệu CX.118; 01 (một) viên đoạn cỡ (5,6 x15,6) mm ký hiệu S&B; 01 (một) viên đạn cỡ (11,43 x 23) mm có ký hiệu RA66; 01 (một) viên đạn cỡ (7,62 x 54) mm ký hiệu 10-54; 01 (một) vỏ lựu đạn có khía màu đen.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc 01 (một) điện thoại Nokia 105 màu đen (số IMEI 355171/06/878843/9) và tịch thu tiêu hủy sim số 0908. 691060 vì sử dụng vào việc phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/6/2017 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự Dĩ An).
3. Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Thành T phải nộp 200.000 (hai trăm nghin ) đồng án phí hình sự̀ sơ thẩm.
Bị cáo có mă ̣t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạ n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Hội đồng xét xử sơ thẩm
Các Hội thẩm nhân dân
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |