- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Văn Qu- Võ Thu Tr"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Võ Văn Qu được ly hôn với chị Võ Thu Tr.
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHẬN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2022/HNGĐ-ST Ngày: 06-10-2022 V/v: “Tranh chấp về ly hôn và yêu cầu nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Cẩm Thúy;
2. Ông Danh Quý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Thị Xà Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 10 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 162/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/9/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2022/QĐST-HNGĐ ngày 19/9/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Võ Văn Qu - sinh năm 1982 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 4, xã V, huyện G, tỉnh K.
2. Bị đơn: Chị Võ Thu Tr - sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 4, xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 21/3/2022 nguyên đơn anh Võ Văn Qu trình bày: Tôi và vợ tôi có tìm hiểu nhau trước được khoảng 02 tháng nên đến năm 2008 chúng tôi được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương, hôn nhân tự nguyện và chúng tôi có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh K vào ngày 09/10/2008.
Sau khi kết hôn vợ chồng tôi sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không phù hợp nhau, không có tiếng nói chung, bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cải vả và vợ tôi tự động dắt 02 con đi vào tháng 6/2016 đến nay, không về địa phương nên tôi có tìm kiếm nhưng không gặp được vợ con. Đến đầu năm 2022 vợ tôi có điện thoại cho tôi một lần nhưng sau đó tôi không liên lạc được do vợ tôi bỏ số điện thoại đó. Do đó, chúng tôi đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay, xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với vợ tôi là Võ Thu Tr.
Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi có 02 người con chung tên Võ Ái Nh1 - sinh ngày 18/6/2009 và Võ Huỳnh Nh2 - sinh ngày 01/10/2013, hiện nay con đang sống với vợ tôi nên tôi đồng ý giao con cho vợ tôi được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và tôi không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản chung và cũng không thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyện vọng:
Về hôn nhân: Tôi xin được ly hôn với vợ tôi là Võ Thu Tr.
Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Như tôi đã trình bày trên, tôi không có yêu cầu gì thêm.
Đối với chị Võ Thu Tr trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Tr nhiều lần nhưng chị vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang có ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, cũng còn một số vi phạm như: Vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử nên đề nghị Tòa án khắc phục sau này. Đối với bị đơn đã được thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng vắng mặt tại phiên là không tuân thủ quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự cũng như tại phiên tòa hôm nay, đối chiếu với các quy định của pháp luật đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Võ Văn Qu được ly hôn với chị Võ Thu Tr. Về con chung: Giao cháu Võ Ái Nh1 - sinh ngày 18/6/2009 và cháu Võ Huỳnh Nh2 - sinh ngày 01/10/2013 cho chị Tr được tiếp tục, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Miễn xét. Về tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa anh Võ Văn Qu và chị Võ Thu Tr là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Anh Võ Văn Qu là nguyên đơn và chị Võ Thu Tr là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng anh Qu có đơn xin xét xử vắng mặt còn chị Tr được Tòa án tống đạt và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng tại nơi chị có hộ khẩu thường trú theo quy định của pháp luật nhưng chị Tr không có mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điêu 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Qu và chị Tr là phù hợp.
Về hôn nhân: Anh Võ Văn Qu và chị Võ Thu Tr kết hôn với nhau vào năm 2008, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh K vào ngày 09/10/2008 cho nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Dù hôn nhân của anh Qu và chị Tr là hôn nhân tự nguyện nhưng trước khi kết hôn anh chị có tìm hiểu nhau trước nhưng chưa tìm hiểu kỹ cá tính của nhau vì vậy khi xác lập cuộc sống chung vợ chồng thì lại bộc lộc ra những cá tính không phù hợp. Anh Qu cho rằng do tính tình không phù hợp nhau, không có tiếng nói chung, bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cải vả và chị Tr tự động dắt 02 con đi vào tháng 6/2016 đến nay, không về địa phương nên có tìm kiếm nhưng không gặp được vợ con nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2016 đến nay. Do đó, ngày 15/8/2022 và ngày 01/9/2022 Tòa án đã tiến hành hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng anh chị đoàn tụ nhưng chị Tr không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của chị Tr. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau từ tháng 6/2016 đến nay do chị Tr bỏ địa phương đi và anh Qu có tìm kiếm nhưng không được chị Tr và các con. Đồng thời, anh Qu tỏ rõ thái độ không còn tình cảm và yêu thương chị Tr nên cương quyết xin ly hôn với chị. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn anh chị đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Qu.
Đối với chị Võ Thu Tr, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án kết hợp với chính quyền địa phương trực tiếp đến nhà chị Tr tống đạt các văn bản đúng theo qui định của pháp luật và thông báo cho chị Tr trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng tại nơi chị có hộ khẩu thường trú theo quy định của pháp luật nhưng chị Tr không có mặt tại Tòa án để làm các văn bản gửi cho Tòa án nên không có căn cứ để xem xét ý kiến của chị Tr. Từ đó, cho thấy chị Tr đã biết được nội dung yêu cầu xin ly hôn của anh Qu. Do đó, HĐXX thống nhất xét xử vắng mặt chị theo qui định của pháp luật.
Về con chung: Anh Võ Văn Qu xác định anh và chị Võ Thu Tr có 02 người con chung tên Võ Ái Nh1 - sinh ngày 18/6/2009 và Võ Huỳnh Nh2 - sinh ngày 01/10/2013, hiện nay cháu Ái Nh1 và cháu Huỳnh Nh2 đang sống với chị Tr nên anh Qu đồng ý giao cháu Võ Ái Nh1 - sinh ngày 18/6/2009 và cháu Võ Huỳnh Nh2 - sinh ngày 01/10/2013 cho chị Tr được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và anh Qu không phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án thì anh Qu xác định khi chị Tr bỏ nhà đi đã dắt các con theo từ tháng 6/2016 đến nay và hiện nay anh không biết các con và vợ ở đâu. Đồng thời, chính quyền địa phương xác nhận hiện nay các con của anh Qu và chị Tr không có ở địa phượng nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của cháu Ái Nh1 và cháu Huỳnh Nh2 được nhưng anh Qu đồng ý giao cháu Ái Nh1 và cháu Huỳnh Nh2 cho chị Tr được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Do đó, HĐXX ghi nhận sự tự nguyện này của anh Qu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Anh Võ Văn Qu có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này. Khi cần thiết, anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Võ Văn Qu xác định anh và chị Võ Thu Tr không có tài sản chung và không có thiếu nợ ai nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa sau khi xem xét lời trình bày của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng anh Võ Văn Qu phải nộp do anh có yêu cầu xin ly hôn nhưng anh được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008784, ngày 18/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, anh Võ Văn Qu đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm. Về chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng anh Võ Văn Qu tự nguyện nộp và đã nộp xong.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Võ Văn Qu được ly hôn với chị Võ Thu Tr.
2. Về con chung: Giao cháu Võ Ái Nh1 - sinh ngày 18/6/2009 và cháu Võ Huỳnh Nh2 - sinh ngày 01/10/2013 cho chị Võ Thu Tr được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Miễn xét.
Anh Võ Văn Qu có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này. Khi cần thiết, anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
4. Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX miễn xét.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng anh Võ Văn Qu phải nộp do anh có yêu cầu xin ly hôn nhưng anh được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008784, ngày 18/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, anh Võ Văn Qu đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm. Về chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng anh Võ Văn Qu tự nguyện nộp và đã nộp xong.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án là ngày 06/10/2022.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh; - VKS huyện Gò Quao; - Chi cục THA huyện Gò Quao; - UBND xã V; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoài Thanh |