- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Bích L "Ly hôn" Phạm Hồng P"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2022/HNGĐ – ST Ngày: 22-8-2022 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hải Âu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trịnh Thị Kim Quyên
2. Ông Nguyễn Thị Bích Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Út - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 355/2022/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2022/QĐXX–ST ngày 01 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bích L, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Ấp 4, xã A, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Phạm Hồng P, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Số 307 ấp Đông, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
Bà L có đơn xin xét xử vắng mặt, ông P vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Trần Thị Bích L trình bày trong đơn khởi kiện ngày 17/6/2022, trong quá trình tố tụng như sau:
Qua thời gian tìm hiểu, bà Trần Thị Bích L và ông Phạm Hồng P tổ chức lễ cưới vào năm 2009, thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, theo giấy chứng nhận kết hôn số 53/2009 ngày 11/8/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với nhau tại ấp 4, xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn. Từ năm 2009, vợ chồng đã bắt đầu mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông P đi làm ăn xa nhà, có người phụ nữ khác bên ngoài, có con riêng, kể từ đó vợ chồng thường xuyên cải vả, bất đồng quan điểm sống, mặc khác ông P đi làm không chu cấp tiền nuôi con, trang trãi sinh hoạt gia đình mà ngược lại còn mượn tiền vợ. Vợ chồng đã cố hàn gắn từ năm 2009 đến nay nhưng không có kết quả, bà L và ông P chính thức ly thân từ năm 2018, kể từ đó không còn liên lạc, quan tâm lẫn nhau. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên bà L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Hồng P.
Về con chung: Bà Trần Thị Bích L và ông P chung sống với nhau có 02 con chung tên Phạm Gia Bảo sinh ngày 01/4/2010, Phạm Gia Phúc sinh ngày 08/3/2013, hiện đang sống với bà L. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung chưa thành niên Phạm Gia Bảo và Phạm Gia Phúc, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phạm Hồng P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông P không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu xin ly hôn của bà L. Tòa án cũng tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông P vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do.
Tài liệu, chứng cứ bà Trần Thị Bích L nộp cho Tòa án bao gồm: Giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh con chung tên Phạm Gia Bảo, Phạm Gia Phúc, bản tự khai ngày 12/7/2022.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nơi cư trú bị đơn, xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 các Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Trần Thị Bích L có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phạm Hồng P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy báo phiên tòa và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy báo phiên tòa và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông P vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Trần Thị Bích L và bị đơn ông Phạm Hồng P.
Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Bích L và ông Phạm Hồng P được xác lập vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An theo giấy kết hôn số 53/2009 ngày 11/8/2009 đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Bà L và ông P có quá trình chung sống với nhau 13 năm, hạnh phúc được thời gian đầu về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà L trình bày là do do ông P đi làm ăn xa nhà, có người phụ nữ khác bên ngoài, có con riêng, kể từ đó vợ chồng thường xuyên cải vả, bất đồng quan điểm sống, mặc khác ông P đi làm không chu cấp tiền nuôi con, trang trãi sinh hoạt gia đình mà ngược lại còn mượn tiền vợ, vợ chồng đã ly thân hơn 03 năm, không liên lạc với nhau. Bị đơn ông Phạm Hồng P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn tố tụng, ông P không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu xin ly hôn của bà L. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông P tham gia xét xử nhưng ông P vẫn vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do, cho thấy ông P không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm với bà L, mặt khác kể từ khi ly thân từ năm 2018 đến nay, vợ chồng không liên lạc, không quan tâm đến nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông P đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Bích L đối với ông Phạm Hồng P.
Về con chung: Bà Trần Thị Bích L và ông P chung sống với nhau có 02 con chung tên Phạm Gia Bảo sinh ngày 01/4/2010, Phạm Gia Phúc sinh ngày 08/3/2013, hiện đang sống với bà L. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung chưa thành niên Phạm Gia Bảo và Phạm Gia Phúc, tự nguyện không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, kể từ khi vợ chồng sống ly thân, bà L vẫn là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, đến khi bà L khởi kiện yêu cầu xin ly hôn và yêu cầu nuôi con chung, ông P không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của bà Hường về con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng để duy trì sự ổn định, phát triển bình thường, đảm bảo việc học hành cũng như ý nguyện vọng của hai cháu Phạm Gia Bảo, Phạm Gia Phúc thể hiện tại đơn nguyện vọng ngày 11/7/2022 là muốn sống với mẹ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, bà L là người tiếp tục nuôi dưỡng con chung chưa thành niên Phạm Gia Bảo, Phạm Gia Phúc, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Trong suốt quá trình tố tụng, bà Trần Thị Bích L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cặp, xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trần Thị Bích L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Các khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Thị Bích L với ông Phạm Hồng P.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Bích L được ly hôn với ông Phạm Hồng P.
1.2. Về con chung: Giao cho bà Trần Thị Bích L được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung chưa thành niên Phạm Gia Phúc sinh ngày 08/3/2013, Phạm Gia Bảo sinh ngày 01/04/2010. Ông Phạm Hồng P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Bích L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Bích L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011516 ngày 11/7/2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Long An thành án phí, bà L đã nộp xong.
Án xử công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đ; - Chi cục Thi hành án huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Hải Âu |