- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm các định về phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Minh V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2021/HS-ST Ngày 06 - 8 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Diệp Duy và ông A Hậu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hữu Công - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2021 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Hà Minh V. Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1998; Tại: Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T1, sinh năm 1971 và bà Mai Thị D1, sinh năm 1974; bị cáo có vợ Nguyễn Thị Huyền N, sinh năm 1999 (đã ly hôn) và có 01 con; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị áp bắt tạm giam từ ngày 28/7/2021 đến nay “có mặt”.
- Bị hại: Ông Cao Long S (Đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Cao Trung T, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Số N, đường U, thành phố K, tỉnh Kon Tum. "Vắng mặt".
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Mai Thị D, sinh năm 1974.
Nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum. "Có mặt".
+ Anh Cao Trung T, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Số N, đường U, thành phố K, tỉnh Kon Tum. "Vắng mặt".
- Người làm chứng: Anh Đoàn Tấn V1, sinh năm 1985.
Nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum. "Vắng mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 06/12/2020, Cao Long S (SN: 1958; Trú tại: hẻm Số N, đường U, thành phố K, thành phố Kon Tum, đã có GPLX) điều khiển xe mô tô BKS 82K1-000.01 (Nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Jupiter, màu sơn đen bạc) lưu thông trên đường Quốc lộ 24 (Hướng từ trung tâm thành phố Kon Tum đi huyện Kon Rẫy). Khi đi tới địa phận thôn K, xã Đ, thành phố K, đây là đoạn đường chưa thi công xong nên tất cả các phương tiện lưu thông hai chiều đều phải đi vào làn đường bên trái theo hướng từ trung tâm thành phố đi huyện K. Vì vậy, ông S điều khiển xe đi vào phần đường này nhưng do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi cho xe chuyển hướng nên đã tông vào đầu bờ mép của dải phân cách cứng và ngã xuống đường. Ngay lúc này, Hà Minh V (Đã có GPLX) điều khiển xe mô tô BKS 82B1-083.46 (Nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Air blade, màu sơn trắng đỏ đen) lưu thông cùng chiều, khi nhìn thấy ông S nằm phía trước nhưng do V chạy với tốc độ cao, không kịp giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên đã tông ngang qua người ông S dẫn đến tai nạn.
Hậu quả: Ông Cao Long S tử vong tại chỗ. Hai phương tiện bị hư hỏng.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn của Hà Minh V: Không có nồng độ cồn.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 111/TT-TTPY ngày 09/12/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Kon Tum, kết luận Cao Long S:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
+ Vùng đầu, mặt: Hai mắt nhắm, miệng khép hờ. Hai tai, mũi, miệng không có máu;
+ Ngực: Lồng ngực bên trái xẹp biến dạng, sờ nắn có tiếng lạo xạo gãy cung trước xương sườn 7,8,9,10 trái;
+ Bụng: Vùng thượng vị có vết thương xây xát da kích thước (19x18)cm;
+ Lưng: Thắt lưng phải có vết thương bầm tím kích thước (15x06)cm, lưng có hoen tử thi;
+ Tay: Đốt bàn ngón 4,5 bàn tay phải có vết thương xây xát da kích thước (05x01)cm. Cẳng tay trái có vết thương xây xát da kích thước (19x08)cm. Hai tay không gãy xương;
+ Chân: Từ 1/3 trên bẹn đến 1/3 giữa mặt trong đùi phải có vết thương rách da cơ kích thước (15x06)cm. Ở 1/3 dưới mặt trước trong đùi phải có vết thương xây xát da bầm tím kích thước (25x12)cm; Gối phải có vết thương xây xát da kích thước (08x04)cm; 1/3 trên cẳng chân phải xây xát da kích thước (01x0,6)cm. Chân phải không gãy xương. Chân trái biến dạng, ở 1/3 giữa mặt trong đùi trái có vết thương xây xát da kích thước (13x03)cm; Từ gối đến 1/3 trên cẳng chân trái có vết thương xây xát da kích thước (15x9,5)cm, từ 1/3 giữa đến cổ chân trái có vết thương xây xát da kích thước (15x02)cm. Mu bàn chân đến đốt xa ngón I bàn chân trái có vết xây xát da kích thước (10x0,5)cm, gãy 1/3 trên xương đùi trái.
+ Mở rộng vết thương vùng đùi – bẹn phải thấy tổ chức da mô cơ bầm tụ máu, bốc tách kiểm tra thấy đứt bó mạch thần kinh đùi – bẹn phải;
+ Dập dương vật và dập vỡ nát tinh hoàn hai bên;
+ Chọc dò lồng ngực không có máu;
+ Chọc dò ổ bụng có máu;
- Nguyên nhân chết: Đa chấn thương
- Kết luận khác: Không.
* Tại bản kết luận giám định tư pháp ngày 29/12/2020 của Sở giao thông vận tải tỉnh Kon Tum, kết luận:
- Xe mô tô BKS 82B1-083.46:
+ Bên ngoài xe: Gương chiếu hậu bên trái tách rời vị trí lắp ghép, giá gương bị cong vênh; Nắp của bình đựng dầu phanh bung hở so với vị trí lắp ghép, phần trước mặt nắp bị cà mòn, tại vị trí lắp giá gương chiếu hậu bên phải bị bể vỡ; Mặt nhựa trên đồng hồ công tơ mét bể vỡ, ốp nhựa bao cụm đèn chiếu sáng bung hở so với vị trí lắp ghép; Ốp nhựa trên đèn chiếu sáng bị trầy xước;
+ Kiểm tra hệ thống phanh, hệ thống lái: Hoạt động bình thường, không phát hiện có dấu hiệu bị hư hỏng;
+ Kiểm tra hệ thống đèn: Không kiểm tra.
- Xe mô tô BKS 82K1-000.01:
+ Bên ngoài xe: Đầu tay cầm lái phía bên phải, đầu tay phanh, đầu gác chân người lái phía bên phải, ốp ống xả: Bị cà mòn; Ốp nhựa trên đèn chiếu sáng bị trầy xước; Gương chiếu hậu bên trái tách rời vị trí lắp ghép; Giá gác chân người lái phía bên phải cong về sau;
+ Kiểm tra hệ thống phanh, hệ thống lái, hệ thống đèn: Hoạt động bình thường, không phát hiện có dấu hiệu bị hư hỏng.
Hiện trường và quá trình khám nghiệm:
Hiện trường vụ tai nạn xảy ra trên Quốc lộ 24 (Thuộc thôn K, xã Đ, thành phố K), trục đường theo hướng Đông Tây, hướng Đông đi huyện K, hướng Tây đi trung tâm thành phố K, là đường hai chiều có dải phân cách bê tông cố định ở giữa, vị trí vụ tai nạn giao thông tại phần đường phía Bắc, lòng đường rộng 11m, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, ở đầu dải phân cách bê tông cố định ở giữa có biển chỉ dẫn để chỉ hướng đi, hai bên là khu vực nhà dân.
Chọn trụ điện có ký hiệu KTLT-105-C làm điểm mốc và mép đường phía Bắc, Quốc lộ 24 theo hướng đi của xe mô tô 82K1-000.01 lưu thông trước khi xảy ra tai nạn làm mép đường chuẩn. Tiến hành đưa phương tiện vào vị trí đã được Cảnh sát giao thông đánh dấu bằng sơn trắng ngay sau khi tai nạn xảy ra, ghi nhận:
Tại hiện trường, xe mô tô BKS 82K1-000.01 nằm ngã nghiêng bên phải, đầu xe quay về hướng Tây, đuôi xe quay về hướng Đông, yên xe quay về hướng Bắc, trục trước xe mô tô BKS 82K1-000.01 cách lề đường chuẩn lần lượt là 3,5m; Trục sau xe mô tô BKS 82K1-000.01 cách lề đường chuẩn là 3,6m. Xe mô tô BKS 82B1-083.46 nằm ngã nghiêng bên phải, đầu xe quay hướng Đông Bắc, đuôi xe quay hướng Tây Nam, yên xe quay hướng Đông Nam; Trục trước xe mô tô BKS 82B1-083.46 cách lề đường chuẩn là 12,4m; Trục sau xe mô tô BKS 82B1-083.46 cách lề đường chuẩn là 13,2m. Từ trục sau xe mô tô BKS 82K1-000.01 về hướng Đông Nam 7,5m là vị trí của nạn nhân Cao Long S, từ vị trí nạn nhân vào mép lề là 9,1m.
Qua khám nghiệm hiện trường xác định điểm đụng 1 nằm ở bờ mép của giải phân cách cứng bằng bê tông giữa xe mô tô 82K1-000.01 và dải phân cách cứng. Từ điểm đụng 1 đến mép lề đường chuẩn là 11,5m; Từ điểm đụng 1 đến điểm mốc cố định là 22,3m; Từ điểm đụng 1 đến biển báo hướng phải đi vòng chướng ngại vật là 1,8m; Từ điểm đụng 1 đến trục trước xe mô tô BKS 82K1-000.01 là 15,8m; Từ điểm đụng 1 đến trục sau xe mô tô BKS 82K1-000.01 là 16,8m; Từ điểm đụng 1 đến nạn nhân là 20,1m; Từ điểm đụng 1 đến trục trước xe mô tô 82B1-083.46 là 57,8m; Từ điểm đụng 1 đến trục trước xe mô tô 82B1-083.46 là 57,2m.
Qua khám nghiệm hiện trường xác định điểm đụng thứ 2 nằm trên phần đường phía Bắc giữa xe mô tô BKS 82K1-000.01 và xe mô tô 82B1-083.46; Từ điểm đụng 2 đến mép lề đường chuẩn là 9,1m; Từ điểm đụng 2 đến điểm mốc cố định là 9,8m; Từ điểm đụng 2 đến điểm đụng 1 là 17m; Từ điểm đụng 2 đến nạn nhân là 3,2m; Từ điểm đụng 2 đến trục trước xe mô tô BKS 82K1-000.01 là 6,5m. Từ điểm đụng 2 đến trục sau xe mô tô BKS 82K1-000.01 là 5,9m; Từ điểm đụng 2 đến trục trước xe mô tô BKS 82B1-083.46 là 40,8m; Từ điểm đụng 2 đến trục sau xe mô tô BKS 82B1-083.46 là 40,1m; Từ điểm đụng 2 đến biển báo hướng phải đi vòng chướng ngại vật là 17,8m. Mở rộng hiện trường ra khu vực xung quanh không phát hiện gì thêm.
- Vật chứng vụ án:
+ 01 (Một) xe mô tô BKS 82K1-000.01, nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Jupiter, màu sơn đen bạc;
+ 01 (Một) xe mô tô BKS 82B1-083.46, nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Air Blade, màu sơn trắng đỏ đen;
* Xử lý vật chứng vụ án:
Cơ quan CSĐT Công an thành phố K đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho anh Cao Trung T (SN: 1987; Trú tại: Số N, đường U, thành phố K, thành phố Kon Tum) 01 (Một) xe mô tô BKS 82K1-000.01, nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Jupiter, màu sơn đen bạc; Trả lại cho bà Mai Thị D (SN: 1974; Thôn K, xã Đ, thành phố K) 01 (Một) xe mô tô BKS 82B1-083.46, nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Air Blade, màu sơn trắng đỏ đen.
- Trách nhiệm dân sự: Bị can Hà Minh V đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Cao Long S số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Bản cáo trạng số: 81/CT-VKSTPKT ngày 07/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố K đã truy tố bị cáo Hà Minh V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng cũng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 65, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Hà Minh V từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định. Về vật chứng vụ án đã xử lý theo thẩm quyền nên không đề cập đến nữa.
Tại phiên tòa xét xử, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đồng thời đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận tiền bồi thường và tài sản, không có yêu cầu giải quyết thêm vấn đề gì về dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Qua phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, bị cáo Hà Minh V đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình là: Khoảng 19 giờ ngày 06/12/2020, ông Cao Long S điều khiển xe mô tô BKS 82K1-000.01 đang lưu thông trên Quốc lộ 24 thuộc địa phận xã Đ, thành phố K. Khi điều khiển xe chuyển hướng đi vào phần đường phía bên trái (Theo biển báo chỉ dẫn), ông S đã tông vào đầu bờ mép của dải phân cách cứng và ngã xuống đường. Cùng lúc đó, Hà Minh V điều khiển xe mô tô BKS 82B1-083.46 lưu thông cùng chiều, V đã quan sát thấy ông S ngã nằm ra đường nhưng do chạy với tố độ nhanh, không kịp xử lý giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên đã tông ngang qua người ông S. Hậu quả: Ông Cao Long S tử vong tại chỗ, xe mô tô hư hỏng nhẹ.
Xét, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ như biên bản lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và phù hợp với các vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, hành vi của bị cáo Hà Minh V đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố K truy tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Khi thực hiện hành vi vi phạm an toàn giao thông đường bộ bị cáo là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý, bị cáo đã không chấp hành các quy định về an toàn giao thông đường bộ, vi phạm về khoảng cách, tốc độ nên khi ông S ngã ra đường bị cáo đã không làm chủ tốc độ để giữ được khoảng cách an toàn nên đã tông ngang người ông S, ông S chết ngay tại chỗ, với kết luận giám định chết do đa chấn thương. Mặc dù bị cáo đã có bằng lái xe nhưng do không tuân thủ theo quy tắc an toàn giao thông của bị cáo nên đã vi phạm khoản 5 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ GTVT quy định tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ dẫn đến tai nạn làm chết 01 người. Hành vi đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, là những quy định nhằm đảm bảo an toàn giao thông vận tải, đảm bảo cho hoạt động giao thông vận tải đường bộ được thông suốt, được tiến hành bình thường, bảo vệ an toàn tính mạng của công dân, việc gây chết người đã gây ra dư luận xấu và hoang mang cho nhân dân địa phương, việc đưa bị cáo ra xét xử và xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây lên nhằm mục đích giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; thật thà khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đại diện hợp pháp của gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử sẽ giảm một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo thành người công dân sống có ích cho xã hội.
Trên cơ sở xem xét toàn diện về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; đồng thời hành vi phạm của bị cáo là vô ý, có phần lỗi của bị hại nên tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa sai không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân sống biết tôn trọng pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì giải quyết thêm vấn đề dân sự và bà D, anh T đã nhận lại xe không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, cơ quan Điều tra Công an thành phố K đã xử lý các vật chứng theo thẩm quyền nên không đề cập đến nữa.
Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Hà Minh V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 65; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hà Minh V 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 kể từ ngày tuyên án (06/8/2021).
Giao bị cáo cho UBND xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015.
Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.
- Về án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Hà Minh V phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, đại diện hợp phá của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tỉnh Kon Tum để xin xét xử phúc thẩm trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án (06/8/2021). Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao Đà Nẵng; - TAND Tỉnh Kon Tum; - VKSND TP K; - VKSND Tỉnh Kon Tum; - Cơ quan điều tra TP K; - Chi cục Thi hành án dân sự TP K; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Hồng Dung |