- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đồng Thị H tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đồng Thị H phạm “Tội đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2021/HS-ST Ngày 28-4-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Ái;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Giang và ông Lê Văn Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Tiền Quí Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2021, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2021/HSST ngày 19 tháng 01 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Đồng Thị H, sinh năm 1987, tại tỉnh Q N. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K T, xã N H, thành phố Q N, tỉnh Q N; nơi ở: Nhà số 48/39, đường L N, phường P T, quận T P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Đ (chết) và bà Phạm Thị H (chết); có chồng (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013 (do bị cáo trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng); tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ ngày 13-8-2020 (tính theo biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường Bình Trị Đông B lập lúc 15 giờ 45 phút ngày 13-8-2020), tạm giam ngày 23-8-2020, hủy bỏ biện pháp tạm giam và thay thế bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 12-10-2020; bị cáo tại ngoại “có mặt”.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Thanh N, sinh năm 1975. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Đ Q, xã T K Đ, thị xã S Đ (nay là thành phố S Đ), tỉnh Đồng Tháp; nơi ở: Nhà số 41/10A, đường D N, Phường 2, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 30 ngày 13/8/2020, Đội Cảnh sát điều tra Tội phạm về Trật tự xã hội-Công an quận Bình Tân kết hợp với Công an phường Bình Trị Đông B bắt quả tang Đồng Thị H đang ghi bán số đề cho anh Lê Thanh N tại trước nhà số 530, đường H H L, Khu phố 13, phường B T Đ B, quận B T với số tiền ghi trên phơi đề là 568.000 đồng. Lúc đó, thu giữ của H tổng số 11 tờ phơi đề ghi ngày 13/8/2020 (bản chính) cùng với 05 tờ phơi liên 2 (do được can ra trong số 11 tờ phơi bản chính và vì người mua số đề chưa trả tiền nên chưa giao 05 liên này) với số tổng tiền ghi là 17.098.000 đồng và số tiền mặt do vừa bán số đề được mà có là 7.816.000 đồng nên đưa về Công an phường xử lý người có hành vi phạm tội quả tang rồi sau đó chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Tại đây, H khai nhận bắt đầu ghi số đề và giao phơi lại cho người tên T (không rõ lai lịch) để hưởng 3% H hồng tính trên tổng số tiền thực tế thu được từ người mua số đề bởi do, nếu người mua số đề 200.000 đồng thì H chỉ thực nhận 160.000 đồng (trừ cho họ 20%); đồng thời được hưởng số tiền trúng với cách thức cụ thể như sau: Người mua 02 số 1000 đồng, nếu trúng thì tên T giao cho H 75.000 đồng (gấp 75 lần) nhưng H chỉ chung 73.000 đồng (lời 2.000 đồng; tương tự mua 03 số 1000 đồng, nếu trúng được 650.000 đồng (gấp 650 lần), chỉ chung 630.000 đồng (lời 20.000 đồng) và mua đá xiên 1000 đồng, nếu trúng được 550.000 đồng (gấp 550 lần), chỉ chung 520.000 đồng (lời 30.000 đồng). Lúc 14 giờ hàng ngày, H đến ngồi trước nhà số 530, đường H H L, Khu phố 13, phường B T Đ B, quận B T để ghi bán số đề, đối với người mua trả tiền liền thì giao phơi đề liên 2 cho họ; còn đối với người mua số đề thiếu tiền thì chỉ ghi, không giao phơi và nếu không trả tiền trước 16 giờ sẽ hủy phơi đề, đến 16 giờ cùng ngày thì tổng hợp phơi đề rồi giao lại cho người (không tên và lai lịch) của tên T gồm tờ tổng hợp phơi đề, tiền bán số đề và ngược lại người này sẽ trả cho H tiền H hồng và tiền trúng (nếu có) để H chung cho người mua số đề.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đồng Thị H khai nhận bắt đầu ghi số đề và giao phơi lại cho người tên T (không rõ lai lịch) để hưởng 3% H hồng tính trên tổng số tiền thực nhận của người mua số đề và tiền của người trúng số đề cụ thể như sau: Người mua 02 số 1000 đồng, nếu trúng thì tên T giao cho H 75.000 đồng nhưng H chỉ chung 73.000 đồng; mua 03 số 1000 đồng, nếu trúng được 650.000 đồng, chỉ chung 630.000 đồng và mua đá xiên 1000 đồng, nếu trúng được 550.000 đồng, chỉ chung 520.000 đồng. Trong khoảng thời gian ghi bán số đề cho tên T, do có ngày không có ai mua số đề, tên T trả công 100.000 đồng và cũng có ngày bị cáo nghỉ nên không nhớ được chính xác số tiền thực bán đề và thu lợi được bao nhiêu. Khi bị cáo đang ghi bán số đề cho anh Lê Thanh N với số tiền là 568.000 đồng thì bị Công an kiểm tra bắt giữ; tuy lúc này bị cáo đã ghi bán số đề cho được 11 người, tương ứng 11 phơi đề với tổng số tiền ghi trên phơi là 17.098.000 đồng nhưng do đã trừ 20% tiền cho 06 người mua số đề trả tiền liền và 05 người còn nợ lại nên tiền mặt thực tế chỉ có 7.816.000 đồng nên nay bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
2
Bản cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 11 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đồng Thị H ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã có ý kiến: Bị cáo Đồng Thị H đã có hành vi ghi bán lô số đề cho tên T (không rõ lai lịch) để hưởng huê hồng tính trên số tiền thực tế bán được và tiền trúng của người mua lô số đề. Lúc bị bắt giữ, tổng số tiền mà bị cáo đã bán lô số đề ghi trên 11 phơi đề được chiết tính ra thành 17.098.000 đồng nên số tiền này được xác định là tiền dùng vào việc đánh bạc. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho bị một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 và 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù và phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng về “Tội đánh bạc”. Còn về vật chứng, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 7.816.000 đồng; tiêu hủy 01 máy tính hiệu Casio, 01 cây bút bi, 01 cái bàn Inox, 01 cái ghế nhựa và 01 cùi giấy can.
Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố; còn lời nói sau cùng thì, bị cáo nêu lên hoàn cảnh gia đình đang rất khó khăn, vợ chồng bị cáo đã ly hôn, bị cáo là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con Nguyễn Thị Mỹ H, 10 tuổi và Đồng Thị Phương T, 8 tuổi; mới đưa các con từ tỉnh Q N vào Thành phố Hồ Chí Minh đi học; còn cha mẹ ruột đã mất nên xin được cho hưởng án treo để có điều kiện chăm lo cho 02 con và cam kết không tái phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra – Công an quận Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo Đồng Thị H tại phiên tòa hôm nay cho thấy: Trong ngày 13/8/2020, tại trước nhà số 530,
3
đường H H L, Khu phố 13, phường B T Đ B, quận B T. Bị cáo đã có hành đánh bạc trái phép dưới hình thức ghi bán lô số đề cho những người mua lô số đề rồi sau đó tổng hợp phơi đề giao lại cho tên T (không rõ lai lịch) để hưởng tiền huê hồng với tổng số tiền thể hiện trên 11 phơi đề là 17.098.000 đồng Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tội đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 cùng Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với các khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được…nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và một phần lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Đối với số tiền thu lợi bất chính thì, do bị cáo khai không nhớ chính xác được bao nhiêu và Cơ quan điều tra cũng không chứng minh được nên không có căn cứ để truy thu. Còn tên T, do rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra đang còn tiếp tục truy xét cho đến khi nào phát hiện sẽ xử lý sau. Riêng anh Lê Thanh N, tuy có hành vi đánh bạc nhưng do số tiền mà anh ghi mua lô số đề của bị cáo chỉ có 568.000 đồng và chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc nên không đủ yếu tố cấu thành “Tội đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 cùng Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 và được Cơ quan điều tra chuyển cho Công an phường Bình Trị Đông xử phạt hành chính là phù hợp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo tuy ít nghiêm trọng nhưng đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, tạo tâm lý bất an trong đời sống khu dân cư và cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này với mức án tương xứng. Tuy nhiên tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có hoàn cảnh gia đình đang rất khó khăn, đã ly hôn chồng và là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con còn nhỏ đang đi học nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Đồng thời, việc bắt bị cáo phải đi chấp hành hình phạt tù là không cần thiết bởi do, bị cáo nơi cư trú rõ ràng và nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã nêu, không có tình tiết tăng nặng nào; các con của bị cáo đang rất cần có người mẹ bên cạnh nên cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo hưởng án treo cũng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đã bị tạm giam trước 02 tháng cũng đủ sức giáo dục và răn đe bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cho thấy, thời gian ghi bán lô số đề của bị cáo cho người khác để hưởng tiền huê hồng
4
kéo dài gần 03 tháng, ít nhiều gì cũng có thu lợi nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với số tiền 7.816.000 (bảy triệu tám trăm mười sáu nghìn) đồng là tiền của bị cáo ghi bán lô số đề có được nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước. Riêng 01 cái máy tính hiệu Casino, 01 cây bút bi màu xanh, 01 cái bàn bằng Inox, 01 cái ghế nhựa và 01 cùi giấy can dùng ghi bán số đề (tất cả đã qua sử dụng) nên cần tịch thu để tiêu hủy.
Bị cáo Đồng Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đồng Thị H phạm “Tội đánh bạc”.
- Về điều luật áp dụng và phạt: Áp dụng khoản 1 và 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 khoản Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt bị cáo Đồng Thị H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 03 (ba) năm, kể từ ngày 28-4-2021.
Buộc bị cáo Đồng Thị H nộp phạt số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.
Giao bị cáo Đồng Thị H cho Ủy ban nhân dân phường Phú Trung, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 7.816.000 (bảy triệu tám trăm mười sáu nghìn) đồng. Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 cái máy tính hiệu Casino, 01 cây bút bi màu xanh, 01 cái bàn bằng Inox, 01 cái ghế nhựa và 01 cùi giấy can dùng ghi bán số đề (tất cả đã qua sử dụng)
(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số NK21/83TAM, ngày 13/01/2021. Riêng số tiền 7.816.000 đồng đã được Công an quận Bình gửi vào Kho bạc Nhà nước quận Bình Tân theo giấy nộp tiền thông qua lệnh thanh toán của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam – Chi nhánh Bình Tân ngày 04/01/2021)
5
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Đồng Thị H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đồng Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Thanh N vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - VKSND QBT; - CA QBT; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ –Văn phòng. 6 | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Văn Ái |