- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đình T, T Văn Th phạm tội “Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Đình T, T Văn Th; s a quyết định về phần hình phạt đối với Trần Đình T, T Văn Th tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2018/HS-ST ngày 27/6/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, c thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 355 Bộ luật tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI _________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 719/2018/HSPT Ngày: 26/10/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thu;
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Cường;
Bà Trần Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 26 tháng 10 năm 2018, tại tr s Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội m phiên tòa c ng khai t ph c thẩm v án hình sự th lý số 619/2018/TL-HSPT ngày 08 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo Trần Đình T, T Văn Th phạm tội “Đánh bạc” do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2018/HS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
* Các bị cáo có kháng cáo:
1. Tô Văn Th, sinh năm 1975 tại Tuyên Quang; nơi ĐKNKTT và chỗ : Thôn T1, xã PL, huyện HY, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Hoa; con ng T Văn N và bà Hà Thị Ch; có vợ là Ma Thị N, có 02 con; tiền án, tiền sự: Kh ng; bị cáo hiện đang bị áp d ng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư tr ; có mặt.
2. Trần Đình T, sinh năm 1975 tại Lào Cai; nơi ĐKNKTT và chỗ : Tổ 43, phường KT, thành phố LC, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: Lớp 10/12; con ng Trần Đình T2 và bà Chu Thị T3; có vợ là Phạm Thị Thu H, có 02 con; tiền án, tiền sự: Kh ng; bị cáo hiện đang bị áp d ng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư tr ; có mặt.
Trong vụ án còn có các bị cáo khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị (không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung v án được tóm tắt như sau: Trần Đình T và T Văn Th đều là chủ trâu chọi tại các lễ hội nên quen biết nhau từ trước. T có ý định mua lại con trâu của của chị Hoàng Thị Ch1 (tr tại: Th n 4, ã Việt Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái) để làm trâu chọi nên đã hỏi chị Ch1 ngày 07/01/2018 cho T mượn trâu mang đi chọi th , nếu chọi tốt T sẽ mua để làm trâu chọi. Khoảng 20 giờ ngày 06/01/2018, T gọi điện cho T Văn Th rủ Th mang trâu của Th đi chọi th với trâu của T để em trâu chọi có tốt kh ng, Th nhất trí. T thống nhất với Th, trưa ngày 07/01/2018, hai người sẽ gặp nhau tại Suối Khoáng, ã Ph Lâm, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang để tìm địa điểm tổ chức chọi trâu. Sau khi thống nhất với T, Th gọi điện thoại cho anh T Văn Tr (là anh trai Th) hỏi mượn trâu của anh Tr mang đi chọi th (vì trước đó thấy trâu của Tr khi thả ra ruộng hay đánh nhau với trâu khác) nên Th trao đổi với anh Tr là nếu chọi th mà chọi được thì Th sẽ mua lại trâu của anh Tr để làm trâu chọi. Anh Tr đồng ý. Sau đó, Th điện th ng báo cho một số bạn bè của Th là Trịnh Quang T4, Nguyễn Xuân Tr, Vũ Đình Dg nói cho họ biết về việc Th sẽ cho trâu của mình chọi th với trâu của T và rủ mọi người đi em. Đồng thời, Th điện cho anh Đặng Văn Tr1 (là người làm thuê cho Th) và Hà Văn Ch2 (đang làm thuê cho Nguyễn Xuân Tr) bảo Tr1 và Ch2 đến nhà anh T Văn Tr dắt trâu cho Th và thuê e tải của Đào Quang M ch trâu uống ã Ph Lâm.
Khoảng 08 giờ ngày 07/01/2018, Th đến nhà anh T Văn Tr thì M cũng lái e tải cùng Chiến đến nơi. Một l c sau, Tr c và Ch ng Đại Nghĩa (do Tr1 rủ đi cùng) cũng đến. Th bảo Tr1 và Ch2 dắt trâu đưa lên e tải, sau đó tất cả cùng nhau ch trâu đi uống ã Ph Lâm. Còn Trần Đình T cũng nhờ Nguyễn Tr Gi lái e tải cùng T ch trâu sang ã Ph Lâm. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Th gặp T tại ã Ph Lâm và cùng nhau đi ăn cơm trưa. Trong l c ăn cơm, T rủ Th chọi trâu cá cược ăn tiền. T nói với Th do trâu của Th to hơn trâu của T, nếu cá cược thì trâu của Th phải chấp trâu của T với tỷ lệ 10 ăn 8, nhưng Th chưa đồng ý với T ngay mà bảo khi nào chọi trâu sẽ trả lời.
Khoảng 13h30’, T, Th đến địa điểm chọi trâu thì thấy nhiều người tập trung đó, có người hỏi chọi trâu có cá cược kh ng thì Th nói với họ là có cá cược tỷ lệ 10 ăn 8 như T đã nói với Th. Sau đó, có một số người đến nhờ Th đặt tiền để cá cược với trâu của T, c thể: Vũ Đình Dg 5.000.000 đồng; Trần Văn H1 900.000 đồng; Trịnh Quang T4 10.000.000 đồng (5.000.000 đồng của T4 còn 5.000.000 đồng của Nguyễn Xuân Tr nhờ T4 đặt cược gi p); Đào Quang M 5.000.000 đồng; Trắng Quốc Cg 300.000 đồng. Th ghi tên và số tiền cá cược của những người nhờ Th vào một tờ giấy A4. Tất cả các đối tượng trên đều nhờ Th cá cược trâu của Th sẽ Th trâu của T với tỷ lệ 10 ăn 8, việc thanh toán tiền sẽ được thực hiện sau khi kết th c trận đấu có kết quả chọi trâu Th, thua. Nếu trâu của Th Th trâu của T thì Th sẽ nhận tiền từ T và trả cho Dương 4.000.000 đồng; trả cho Hà 720.000 đồng; trả cho Tuyên 8.000.000 đồng (trong đó của Tr 4.000.0000 đồng); trả cho M 4.000.000 đồng và trả cho Cg 240.000 đồng. Ngược lại, nếu trâu của Th thua trâu của T thì Th phải thu tiền của những người trên và trả lại cho T. Tổng số tiền 5 người trên nhờ Th cá cược là 21.200.000 đồng; Th lấy tiền của Tháng bỏ ra thêm 5.000.000 đồng = 26.200.000 đồng để tham gia cá cược với T. Sau khi tổng hợp được số tiền trên, Th nhất trí cá cược với T và thông báo cho T biết Th có 26.000.000 đồng. Hai bên thống nhất tỷ lệ 10 ăn 8, nếu trâu của T thắng thì Th sẽ phải trả cho T 26.000.000 đồng, còn nếu ngược lại thì T sẽ phải trả cho Th 20.800.000 đồng. Tuy nhiên, T và Th thống nhất nếu trâu của T thuê thì T chỉ phải trả cho Th 20.000.000 đồng, kh ng tính số tiền lẻ 800.000 đồng. Sau khi thống nhất ong, T và Th cho hai con trâu vào bãi ruộng để chọi. Khi hai con trâu h c nhau khoảng được 05 ph t, chưa phân Th, thua thì Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an tỉnh Tuyên Quang phát hiện lập biên bản kiểm tra, tạm giữ 2 con trâu và yêu cầu 60 người có mặt tại hiện Tr về tr s Cơ quan điều tra làm việc.
Như vậy, tổng số tiền các đối tượng s d ng vào việc đánh bạc là 46.200.000 đồng; trong đó: Trần Đình T s d ng số tiền 20.000.000 đồng để đánh bạc với T Văn Th; T Văn Th s d ng 5.000.000 đồng đánh bạc và gi p sức cho Trịnh Quang T4, Nguyễn Xuân Tr, Vũ Đình Dg, Đào Quang M; Trần Văn H và Trắng Quốc Cg đánh bạc với số tiền 21.200.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2018/HSST ngày 27/6/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; tuyên bố các bị cáo Trần Đình T, T Văn Th phạm tội “Đánh bạc”. Áp dung khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo T Văn Th 01 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt tiền 15.000.000 đồng để sung c ng quỹ Nhà nước.
Áp d ng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo Trần Đình T 01 năm tù cho hư ng án treo; thời gian th thách 02 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/6/2018. Giao bị cáo Trần Đình T cho Ủy ban nhân dân phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo d c trong thời gian th thách. Phạt tiền 15.000.000 đồng để sung c ng quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác, hình phạt bổ sung và th ng báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 06/7/2018, bị cáo T Văn Th kháng cáo in giảm hình phạt và hư ng án treo; ngày 10/7/2018, bị cáo Trần Đình T kháng cáo in giảm hình phạt.
Tại phiên tòa ph c thẩm, các bị cáo Trần Đình T, T Văn Th thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết; T xin được chuyển sang loại hình phạt khác như phạt tiền và bị cáo uất trình hợp đồng lao động, mức lương tháng thể hiện bị cáo có đủ điều kiện để thi hành; Th xin được hư ng án treo với các lý do: Mẹ bị cáo 85 tuổi, đau ốm liên miên; con nhỏ; bị cáo có việc làm và nơi cư tr ổn định; quá trình chờ giải quyết v án này, bị cáo đã hai lần báo với Cơ quan điều tra để bắt 2 đối tượng mua bán ma t y tại huyện Hàm Yên; bị cáo cam kết thực hiện tốt nghĩa v của mình trong gia đình cũng như tại địa phương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi nghe các bị cáo trình bày đã kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm phạt các bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đ ng pháp luật. Bị cáo T có tình tiết mới thể hiện bị cáo có khả năng thi hành hình phạt tiền nên áp d ng hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp. Đối với bị cáo Th, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa, bị cáo uất trình tình tiết mới đã tích cực gi p cơ quan điều tra phát hiện, lý tội phạm; bị cáo có ý thức nộp phạt; được cơ quan, địa phương ác nhận có việc làm và nơi cư tr ổn định, kh ng có vi phạm gì. Do đó, bị cáo có đủ điều kiện để được hư ng Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng t chấp nhận kháng cáo của cả hai bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
C¨n cø vµo c¸c chøng cø, tµi liÖu ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ phóc thÈm; kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn tµi liÖu, chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o, sau khi th¶o luËn vµ nghÞ ¸n, Héi ®ång xÐt xö cã c¸c nhËn ®Þnh sau ®©y:
[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo Trần Đình T, T Văn Th tại cơ quan điều tra và các phiên tòa phù hợp với các bị cáo khác trong cùng v án, vật chứng cơ quan điều tra thu giữ được cùng toàn bộ những chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra. Do đó, có căn cứ để ác định hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Đình T, T Văn Th như sau: Khoảng 13h30’ ngày 7/01/2018, tại khu vực Suối Khoáng, ã Ph Lâm, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, T rủ Th chọi trâu có cá cược tiền. T bỏ 20.000.000 đồng để cá cược với Th. Th nói với một số đối tượng có cá cược nên họ đã nhờ Th đặt tiền để cá cược với trâu của T, c thể: Vũ Đình Dg 5.000.000 đồng; Trần Văn H 900.000 đồng; Trịnh Quang T4 10.000.000 đồng (5.000.000 đồng của T4 còn 5.000.000 đồng của Nguyễn Xuân Tr nhờ T4 đặt cược gi p); Đào Quang M 5.000.000 đồng; Trắng Quốc Cg 300.000 đồng. Th ghi tên và số tiền cá cược của những người nhờ Th vào một tờ giấy A4, cá cược trâu của Th sẽ Th trâu của T với tỷ lệ 10 ăn 8. Việc thanh toán tiền sẽ được thực hiện sau khi kết th c trận đấu có kết quả chọi trâu Th, thua. Nếu trâu của Th thua trâu của T thì Th sẽ nhận tiền từ T và trả cho những người nhờ cá cược, nếu trâu của Th thua thì Th phải thu tiền của những người trên và trả lại cho T. Khi hai con trâu húc nhau được khoảng 05 ph t, chưa phân thắng, thua thì Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an tỉnh Tuyên Quang phát hiện lập biên bản kiểm tra, tạm giữ 2 con trâu và yêu cầu 60 người có mặt tại hiện trường về tr s Cơ quan điều tra làm việc. Tổng số tiền cơ quan điều tra thu giữ, chứng minh được các bị cáo s d ng để đánh bạc là 46.200.000 đồng. Trong đó Trần Đình T s d ng 20.000.000 đồng để đánh bạc với Th; Th s d ng 5.000.000 đồng đánh bạc và gi p sức cho Trịnh Quang T4, Nguyễn Xuân Tr, Vũ Đình Dg, Đào Quang M, Trần Văn H, Trắng Quốc Cg đánh bạc với số tiền 21.200.000 đồng.
[2] Các bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức ã hội, biết pháp luật cấm đánh bạc dưới mọi hình thức nhưng đã bất chấp pháp luật, cùng nhau đánh bạc nhằm thu lời bất chính. Hành vi đó đã cấu thành tội “Đánh bạc” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015. Tòa án cấp sơ thẩm áp d ng điều khoản này để phạt các bị cáo là đ ng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, trực tiếp âm phạm đến trật tự c ng cộng, là mầm mống của các tệ nạn ã hội cũng như tội phạm khác. Trong v án này, bị cáo T, Th đều là người trực tiếp tìm địa điểm, chuẩn bị trâu chọi để cùng cá cược nhau bằng tiền.
[3] X t kháng cáo in được hư ng án treo của bị cáo T Văn Th, Hội đồng t thấy rằng: Th được T rủ cá cược khi chọi trâu nhưng chính bị cáo lại là người gi p sức cho Trịnh Quang Tuyên, Nguyễn Xuân Tr, Vũ Đình Dg, Đào Quang M, Trần Văn H, Trắng Quốc Cg cùng cá cược. Bị cáo đã ghi tên, số lượng tiền đánh bạc và thu tiền của các đối tượng này. Tòa án cấp sơ thẩm ác định bị cáo có vai trò tích cực hơn T là chính ác và cũng đã áp d ng đ ng, đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo có nhân thân tốt, kh ng có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và các phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, để phạt bị cáo 01 năm tù và phạt tiền 15.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước là phù hợp. Tại phiên tòa ph c thẩm, bị cáo uất trình tình tiết giảm nhẹ mới là đã tích cực, tố giác tội phạm, gi p cơ quan điều tra bắt, kh i tố đối với 02 v án mua bán ma t y tại huyện Hàm Yên. X t thấy, bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn; có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, kh ng có tình tiết tăng nặng; hiện tại bị cáo có việc làm và nơi cư tr ổn định; hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ già yếu, con nhỏ rất cần sự chăm sóc của bị cáo nên có thể khoan hồng, cho bị cáo được hư ng án treo như đề nghị của ng Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đảm bảo giáo d c bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4] X t kháng cáo in giảm hình phạt của Trần Đình T, Hội đồng t
thấy rằng: Bị cáo là người gọi điện cho Th hẹn chọi trâu; rủ Th cá cược bằng tiền; mang trâu mình mượn đến địa điểm chọi. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã áp d ng đ ng, đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đó là: Bị cáo có nhân thân tốt, kh ng có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và các phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tố giác tội phạm trong một v án giết người tại ã Minh Hương, huyện Hàm Yên; bố mẹ bị cáo đều được tặng Huy chương vì sự nghiệp giáo d c; có nơi cư tr ổn định, để phạt bị cáo 01 năm tù cho hư ng án treo là có căn cứ. Tuy nhiên, t bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, kh ng có tình tiết tăng nặng; phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, do bột phát; khi các bị cáo vừa cho trâu chọi được khoảng 5 ph t thì đã bị phát hiện bắt quả tang; bị cáo hiện là Phó giám đốc C ng ty TNHH một thành viên ây dựng Đức Long Lai Châu có mức lương 19.000.000 đồng/tháng. Do đó có thể em t áp d ng loại hình phạt nhẹ hơn là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của ng Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đảm bảo tính giáo d c riêng bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa chung.
[5] Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận, theo quy định của pháp luật, các bị cáo kh ng phải chịu án phí hình sự ph c thẩm.
Từ nhận định trên, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố t ng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH
1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Đình T, T Văn Th; s a quyết định về phần hình phạt đối với Trần Đình T, T Văn Th tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2018/HS-ST ngày 27/6/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, c thể như sau:
- Áp d ng khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, phạt Tô Văn Th 01 năm tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hư ng án treo, thời gian th thách 02 năm tính từ ngày tuyên án ph c thẩm (ngày 26/10/2018). Phạt tiền bị cáo 15.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Giao bị cáo T Văn Th cho UBND ã Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang để giám sát, giáo d c trong thời gian th thách. Trường hợp T Văn Th thay đổi nơi cư tr thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 luật thi hành án hình sự. “Trong thời gian th thách, nếu người được hư ng án treo cố ý vi phạm nghĩa v theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần tr lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hư ng án treo”.
- Áp d ng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự 2015, phạt Trần Đình T 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.
2. Các bị cáo Trần Đình T, T Văn Th kh ng phải chịu án phí hình sự ph c thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm kh ng có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Bản án ph c thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 26/10/2018).
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Công an tỉnh Tuyên Quang; - Cục T.H.A DS tỉnh Tuyên Quang; - Các bị cáo (theo địa chỉ); - Lưu HS, PHC-TP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Minh Thu |