vanban.org

Bản án 95/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Tuyên án 26/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Mai Văn T, Đinh Tiến D, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn P phạm tội “Đánh bạc”;

Xử phạt bị cáo Mai Văn T 01 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm, kể từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11- 8- 2021 đến ngày 08- 9- 2021). Xử phạt bị cáo Đinh Tiến D 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án (bị cá…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn T và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Mai Văn T, Đinh Tiến D, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn P phạm tội “Đánh bạc”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2021/HS-ST
Ngày: 26- 10- 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hà Bắc;

Ông Doãn Phi Trường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Thưởng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Mai Văn T; sinh ngày 23- 02- 1990 tại huyện A, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 7, xã B, huyện A, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; con ông Mai Văn Hiển và bà Nguyễn Thị Vui; có vợ là Lương Thị Nga và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11-8-2021 đến ngày 08- 9- 2021; hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; “có mặt”.

2. Họ và tên: Đinh Tiến D; sinh ngày 24- 02- 1991 tại huyện A, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 6, xã B, huyện A, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; con ông Đinh Xuân Hùng và bà Ngô Thị Đào; có vợ là Ngô Thị Thu Phương và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 11-8-2021 đến ngày 14- 8- 2021; hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; “có mặt”.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn C; sinh ngày 20- 01- 1991 tại huyện A, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 4, xã B, huyện A, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; con ông Nguyễn Văn Linh và bà Nguyễn Thị Yến; có vợ là Trần Thị Nga và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 11-8- 2021 đến ngày 14- 8- 2021; hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; “có mặt”.

4. Họ và tên: Nguyễn Văn P; sinh ngày 16- 11- 1999 tại huyện A, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 4, xã B, huyện A, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; con ông Nguyễn Văn Năng và bà Hoàng Thị Xuyến; có vợ là Mai Thị Thúy và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 11- 8- 2021 đến ngày 14- 8- 2021; hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; “có mặt”.

* Người làm chứng:

- NLC1; “vắng mặt”.

- NLC2; “vắng mặt”.

- NLC3; “vắng mặt”.

- NLC4; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 11- 8- 2021, Nguyễn Văn C, Đinh Tiến D, NLC1 đến nhà hàng Nam Giang (địa chỉ: Xóm 9, xã Giao Thịnh, huyện Giao Thủy) do Mai Văn T quản lý cùng ăn, uống với Mai Văn T và NLC2 là nhân viên lễ tân của nhà hàng. Sau khi ăn uống xong, khoảng 13 giờ cùng ngày, C, D, T và P thống nhất đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh phỏm, về nhì mất 100.000 đồng, ba mất 200.000 đồng, bét mất 300.000 đồng, không có phỏm mất 400.000 đồng cho người nhất; ván “ù” mất 500.000 đồng. T nhờ NLC3 là nhân viên giúp việc của nhà hàng mua hộ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân. Sau đó T, C, D và P đánh bạc tại Phòng Vip 4 của nhà hàng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày khi các đối tượng đang tham gia đánh bạc thì bị Tổ công tác Công an xã Giao Thịnh phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 10.800.000 đồng, 01 bộ tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng; thu giữ trên người Mai Văn T 1.500.000 đồng, Đinh Tiến D 4.200.000, các đối tượng khai nhận dùng để đánh bạc. Các bị cáo thừa nhận, số tiền mang theo tham gia đánh bạc, gồm: Mai Văn T khoảng 4.000.000 đồng; Đinh Tiến D khoảng 6.000.000 đồng; Nguyễn Văn C 2.000.000 đồng; Nguyễn Văn P 4.000.000 đồng.

Cáo trạng số 95/CT-VKS-GT ngày 04- 10- 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố Mai Văn T, Đinh Tiến D, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn P về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như đã nêu.

- Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Mai Văn T, Đinh Tiến D, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn P phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ khoản 1 Điều 321, các điểm i và s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Mai Văn T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm đến 02 năm 06 tháng. Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i và s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt các bị cáo Đinh Tiến D, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn P mỗi bị cáo từ từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 16.500.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Các bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo tỏ rõ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai tại giai đoạn điều tra, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 11- 8- 2021 tại Nhà hàng Nam Giang thuộc xóm 9, xã Giao Thịnh, huyện Giao Thủy do Mai Văn T quản lý, Mai Văn T cùng Đinh Tiến D, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn P tham gia đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền với tổng số tiền là 16.500.000 đồng. Các bị cáo đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng đã cố ý thực hiện hành vi xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm nếp sống văn minh của xã hội. Do đó, đủ căn cứ kết luận các bị cáo Mai Văn T cùng Đinh Tiến D, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn P phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, phù hợp với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy.

Về nhân thân: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự; có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, ăn năn hối cải. Vì vậy, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng rủ nhau đánh bạc với số tiền không lớn. Bị cáo Mai Văn T phạm tội tích cực hơn nên có vai trò cao hơn các bị cáo khác; các bị cáo Đinh Tiến D, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn P cùng có vai trò ngang nhau và thấp hơn Tính trong vụ án.

Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù với bị cáo nhưng cho các bị cáo hưởng án treo là đủ tác dụng trừng trị, răn đe, giáo dục và phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, hiện trong thời kỳ dịch bệnh Covid 19 nên có hoàn kinh tế khó khăn; vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với tất cả các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số tiền 16.500.000 đồng là tiền đánh bạc nên tịch thu sung quỹ Nhà nước; 01 bộ tú lơ khơ các bị cáo sử dụng để đánh bạc, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố các bị cáo Mai Văn T, Đinh Tiến D, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn P phạm tội “Đánh bạc”;

Xử phạt bị cáo Mai Văn T 01 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm, kể từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11- 8- 2021 đến ngày 08- 9- 2021).

Xử phạt bị cáo Đinh Tiến D 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 11- 8-2021 đến ngày 14- 8- 2021).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 11- 8-2021 đến ngày 14- 8- 2021).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 11- 8-2021 đến ngày 14- 8- 2021).

Giao các bị cáo Mai Văn T, Đinh Tiến D, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn P cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện A, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 16.500.000 đồng (theo Biên lai thu số 0000051 ngày 04- 10- 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy); tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng (theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 04-10-2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Mai Văn T, Đinh Tiến D, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo Mai Văn T, Đinh Tiến D, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ