vanban.org

Bản án 95/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 28/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cà Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04/5/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong đựng 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (Một) mảnh nilon màu trắn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cà Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2020/HS-ST
Ngày 23-7-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cà Văn Pản và ông Vũ Duy Khương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Giang -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2020/TLST-HS ngày 01/7/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2020/QĐXXST- HS ngày 13/7/2020 đối với bị cáo:

Cà Văn D, sinh ngày: 10/9/1979, tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHTT và chỗ ở hiện nay: Bản P, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (Học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Cà Văn B, sinh năm 1959 và bà Lù Thị Y, sinh năm 1960, bị cáo có vợ là Cà Thị L, sinh năm 1990 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2020 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 45 phút, ngày 04/5/2020 Tổ công tác Công an xã C - thành phố S thực hiện việc kiểm tra xác minh phiếu phát giác, tự giác liên quan đến Cà Văn D, trú tại bản Panh, xã C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, tại trụ sở công an xã Chiềng Xôm, Cà Văn D tự giác giao nộp 01 gói nilon màu tráng bên trong có chứa cục bột màu trắng và khai nhận là Heroine, cất giấu để sử dụng cho bản thân. Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Cà Văn D khai nhận: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 04/5/2020 Cà Văn D đi bộ từ nhà tại bản P, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La ra đường đón xe Bus đến Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Sơn La để uống thuốc Methadon. Sau khi uống thuốc xong bị cáo đi bộ ra quốc lộ 6 để tìm mua ma tuý để sử dụng. Tại đây D gặp một nam giới không quen biết đang đứng bên đường, D lại gần nói chuyện, qua trao đổi người thanh niên đó đã bán cho D 01 gói nilon màu trắng trên trong có chứa cục bột màu trắng với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma tuý bị cáo cất gói ma tuý đó vào túi quần bên trái phía trước đang mặc, rồi đi bộ đón xe Bus về nhà. Khi về gần đến nhà thì bị Tổ công tác công an xã Chiềng Xôm yêu cầu bị cáo đến trụ sở xã làm việc. Tại đây bị cáo Cà Văn D đã tự lấy 01 gói ma tuý trong túi quần ra giao nộp và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định.

Ngày 04 tháng 5 năm 2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả cân tịnh: Số chất cục, bột màu trắng có khối lượng 0,54 gam, lấy 0,30 gam làm mẫu giám định ký hiệu D1. Còn lại 0,24 gam lưu kho ký hiệu D2.

Ngày 04 tháng 5 năm 2020 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sơn La đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 1291/QĐ-ĐCSKT-MT Trưng cầu giám định phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy đối với vật chứng thu giữ trong vụ án.

Kết luận giám định số: 707/KLMT ngày 08/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận “Mẫu giám định ký hiệu D1 là ma túy; loại Heroine; tổng khối lượng mẫu gửi giám định là 0,30 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,54 gam; loại Heroine”

Tại bản Cáo trạng số 134/CT- VKSTP ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Cà Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cà Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Cà Văn D từ 16 (Mười sáu) tháng đến 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04/5/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong đựng 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (Một) mảnh nilon màu trắng; 0,24 gam Heroine.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Cà Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa, bị cáo Cà Văn D khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 11 giờ 50 phút ngày 04/5/2020; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 04/5/2020 bị cáo Cà Văn D đã có hành vi tàng trữ 0,54 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.

Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểms khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung (Phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, bản thân không có công việc và thu nhập ổn định và không có tài sản gì có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong đựng 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (Một) mảnh nilon màu trắng; 0,24 gam Heroine, xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tuyên tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo (như bị cáo đã khai) do bị cáo không biết rõ, địa chỉ, lai lịch của người này, ngoài lời khai của bị cáo, quá trình điều tra không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Cà Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04/5/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong đựng 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (Một) mảnh nilon màu trắng; 0,24 gam Heroine.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/7/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Cà Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ