vanban.org

Bản án 95/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 30/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn H 42 (bốn hai) tháng tù; về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về xử lý tang vật: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 610.000 đồng. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án số tiền 610.000 đồng. Theo biên bản giao, nhận tài sản, vật… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trinh Van Hung - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn H 42 (bốn hai) tháng tù; về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2020/HS-ST
Ngày 30-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Trần Phương Thảo – Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 80/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số210/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Trịnh Văn H, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1969 tại Quảng Ninh. Nơi cư trú: Xóm G.V, xã Y.Đ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn H và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); vợ Lý Thị Q; tiền án, tiền sự, nhân thân: 03 tiền án đã xóa án tích: Án số 44/HSST ngày 31/3/1992, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; án số 238/HSST ngày 09/10/1996, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 03 năm tù về tội Phá hủy các công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia, 06 tháng tù về tội Trốn khỏi nơi giam; án số 97/2006/HSST ngày 24/3/2006, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 48 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giữ ngày 04/3/2020, tạm giam ngày 06/3/2020; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 ngày 04/3/2020, Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 – Bộ tư lệnh Cảnh sát biển kết hợp với Công an phường Cát Dài, làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số 31 T.N.H, quận Lê Chân, Hải Phòng, phát hiện Trịnh Văn H ngồi sau xe mô tô biển kiểm soát 16F7 – 1770 do Lê Đình C điều khiển, có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện trong miệng của Hưng 01 gói giấy nilon, bên trong có 01 gói giấy vở học sinh chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Ngoài ra còn thu giữ của H 610.000đ và 01 điện thoại Nokia, thu giữ của C 01 xe mô tô biển kiểm soát 16F7 – 1770. Cơ quan công an đã đưa H và C cùng vật chứng thu giữ được về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 103/KLGĐ ngày 04/3/2020 của Phòng Kĩ thuật hình sự - Công an TP Hải Phòng kết luận: chất bột màu trắng trong 01 gói giấy thu giữ của Trịnh Văn H có khối lượng 1,9 gam là loại heroine.

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Văn H khai: Khoảng 06 giờ ngày 04/3/2020, Hưng đi xe khách từ Quảng Ninh đến chân cầu Bính, Hải Phòng, thì xuống xe. Hưng đi xe ôm một người không quen biết đến ngõ 30 Trần Nguyên Hãn để tìm mua ma túy về sử dụng. H đi vào ngõ được khoảng 20m, H trả tiền xe ôm, đi bộ vào khoảng 20m, H mua ma túy của một người đàn ông 01 gói ma túy với giá 1.200.000đ. H cất ma túy với miệng đi ra đầu ngõ 30 T.N.H đi xe ôm của Lê Đình C ra bến xe Thượng Lý. Khi đi đến trước cửa số nhà 31 T.N.H thì bị bắt.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho H ngày 04/3/2020, H không biết tên, lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra.

Đối với Lê Đình C là người chở H, C không biết việc H mua và cất giữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê chân không có căn cứ xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16F7 – 1770, quá trình điều tra, chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp. Cơ quan điều tra tiếp tục lưu giữ để điều tra, xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 10 tháng 6 năm 2020, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Trịnh Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trịnh Văn H mức án từ 42 tháng đến 48 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo không có thu nhập và tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng lượng ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 610.000 đồng là tài sản riêng của bị cáo, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án số tiền 610.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định củapháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng, báo cáo bắt giữ, tang vật thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào hồi 09 giờ ngày 04/3/2020, trước cửa nhà số 31 T.N.H, quận Lê Chân, Hải Phòng, Trịnh Văn H có hành vi cất giữ trái phép 1,9 gam Heroine để sử dụng, thì bị bắt. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trịnh Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, làm suy thoái đạo đức lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh những tội phạm khác gây mất trật tự xã hội.

Về nhân thân bị cáo có 03 tiền án, tuy đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Cho thấy bị cáo có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém và bản thân là đối tượng nghiện ma túy, nên cần phải xử lý nghiêm, bắt phải cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số ma tuý Công an thu giữ của bị cáo sau khi lấy đi giám định, lượng còn lại xét là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 610.000 đồng là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án số tiền 610.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn H 42 (bốn hai) tháng tù; về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 04 tháng 3 năm 2020.

Về xử lý tang vật: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 610.000 đồng. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án số tiền 610.000 đồng. Theo biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng và biên lai thu tiền số 0004569 ngày 10 tháng 6 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân.

Về án phí: Buộc bị cáo Trịnh Văn H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ