- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Võ Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn M phạm tội T ng trữ trái phép chất ma túy .
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2020/HS-ST Ngày: 09-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Ya Thuyên
2/ Ông Cao Đình Nhân
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 92/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Võ Văn M, sinh năm 1968; nơi sinh: Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT: Trương Công Định, phường 3, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Văn G, sinh năm 1943, con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1943; gia đình có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 1964, nhỏ nhất sinh năm 1981; vợ: Lâm Thị T, sinh năm 1975; con: có 02 con sinh năm 2008 và 2011; tiền án, tiền sự: không; nhân thân:
- Ngày 06/02/1998 bị Công an thành phố B H, tỉnh Đồng Nai xử phạt 500.000đ về hành vi “Đánh bạc”.
- Bản án số: 28/HSST ngày 28/8/2001, của Tòa án nhân dân huyện B C, tỉnh Bình Dương xử phạt Võ Văn M 36 tháng tù giam về tội l a o chi m o t t i n . Truy thu số tiền 21.450.000đ của bị cáo sung công qu nhà nước. Ngày 25/6/2004 Tòa án nhân dân huyện B C, tỉnh Bình Dương ủy thác cho thi hành án huyện Đ Q, tỉnh Đồng Nai thi hành bản án trên. Ngày 30/7/2004 đội thi hành án huyện Đ Q, tỉnh Đồng Nai ủy thác cho thi hành án thành phố V, Bà Rịa Vũng Tàu thi hành bản án trên. Theo biên bản xác minh ngày 13/5/2020 của Công an huyện Đ tại chi cục thi hành án thì thành phố V chưa nhận được quyết định ủy thác thi hành bản án trên.
- Bản án số: 90/2005/HSST ngày 01/4/2005, của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt Võ Văn M 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bị cáo thi hành xong án phạt tù vào ngày 24/6/2010, thi hành xong án phí ngày 19/9/2005.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ từ ngày 25/02/2020 đến nay. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/02/2020, bị cáo Võ Văn M đến thành phố Đà Lạt đi du lịch. Đến 19 giờ 50 phút ngày 25/02/2020, khi bị cáo M đến sân bay Liên Khương, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng để làm thủ tục bay chuyến bay số hiệu Vz365 từ cảng hàng không Liên Khương về Thành Phố Hồ Chí Minh. Quá trình làm thủ tục bay thì tại bộ phận soi chiếu hàng hóa của hành khách M phát hiện trong ba lô của M có một gói ni lon chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Lực lượng công an đã lập biên bản phạm tội quả tang đối với Võ Văn M và niêm phong số vật chứng trên đưa đi giám định. Quá trình điều tra bị cáo M khai nhận số ma túy trên bị cáo mua của một thanh niên (không rõ lai lịch) tại thành phố Đà Lạt với giá 1.700.000đ vào ngày 24/02/2020 về để sử dụng cho bản thân.
Theo kết luận giám định số: 551/GĐ – PC09 ngày 28/02/2020, của phòng k thuật hình sự công an tỉnh Lâm Đồng kết luận M u tinh thể đựng trong một gói ny lon được niêm phong gửi giám định là ma túy có khối lượng 2,6444g Methamphetamine.
(Methamphetamine l chất ma túy, nằm trong danh mục II, STT: 323, Nghị ịnh 73/2018/NĐ-CP ng y 15/05/2018 của Chính phủ).
Vật chứng thu giữ gồm:
- Số tiền 5.500.000đ thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho bị cáo.
- Số ma túy còn lại sau khi giám định, 01 đoạn ống thủy tinh uốn cong, 07 ống nhựa loại ống hút chất lỏng. Số vật chứng trên cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng chuyển chi cục thi hành án dân sự xử lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra bị cáo M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định.
Cáo trạng số 97/CT-VKS ngày 19 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Võ Văn M về tội T ng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát huyện Đ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xét xử phạt bị cáo Võ Văn M từ 03 đến 04 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 để giải quyết theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Võ Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cụ thể như sau: Để có ma túy sử dụng cho bản thân nên bị cáo đã mua của một thanh niên (không rõ lai lịch) tại thành phố Đà Lạt với giá 1.700.000đ vào ngày 24/02/2020 về để sử dụng cho bản thân. Đến 19 giờ 50 phút ngày 25/02/2020, khi bị cáo M đang làm thủ tục tại sân bay Liên Khương, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng để về Thành phố Hồ Chí Minh thì tại bộ phận soi chiếu hàng hóa của sân bay đã phát hiện số ma túy của bị cáo đang để trong ba lô. Lực lượng công an đã lập biên bản phạm tội quả tang đối và niêm phong số vật chứng trên đưa đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 551/GĐ – PC09 ngày 28/02/2020, của phòng k thuật hình sự công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: M u tinh thể đựng trong một gói ny lon được niêm phong gửi giám định là ma túy có khối lượng 2,6444g Methamphetamine.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng vụ án và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Võ Văn M đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng v n cố tình thực hiện, chứng tỏ bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, ổn định tại địa phương mà còn xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy.
Xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị xử phạt về hành vi đánh bạc, lừa đảo chiếm đoạt tài sản và mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo đã được xóa án tích nên bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để làm công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội nên hành vi phạm tội mới của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bố bị cáo là người có công với cách mạng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 cho bị cáo khi lượng hình.
Từ những phân tích nhận định trên, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và mang tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Về tang vật của vụ án: Đối với số ma túy của bị cáo còn lại sau khi gửi đi giám định đựng trong phong bì niêm phong số 551/GĐ-PC09 “M u hoàn, m = 2,1950g” và phong bì niêm phong số 551/GĐ-PC09 “Bao gói vật chứng” có đóng dấu đỏ của phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, 01 đoạn ống thủy tinh uốn cong và 07 ống nhựa loại hút chất lỏng xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với số tiền 5.500.000đ (năm triệu năm trăm ngàn đồng) đã thu giữ của bị cáo, do không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong vụ án có đối tượng thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên đề nghị Công an huyện Đ tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Văn M phạm tội T ng trữ trái phép chất ma túy .
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt: Bị cáo Võ Văn M 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/02/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo đựng trong phong bì niêm phong số 551/GĐ-PC09 “M u hoàn, m = 2,1950g” và phong bì niêm phong số 551/GĐ-PC09 “Bao gói vật chứng” có đóng dấu đỏ của phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, 01 đoạn ống thủy tinh uốn cong và 07 ống nhựa loại hút chất lỏng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Võ Văn M phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - THA huyện Đ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Bộ phận THA phạt tù; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Văn Hùng |