vanban.org

Bản án 95/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 10/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 . Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Việt T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

ăn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt ị cáo L Việt T 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày ị cáo ị ắt để thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
  • Tòa quyết gì? 1 . Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Việt T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2020/HS-ST
Ngày: 17-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ánh Sáng

Ông Nguyễn Văn Thọ

- Thư ký phiên tòa:

Bà Lê Thị Quỳnh Như

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền – tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Bà Nguyễn Thị Thu Kiều.

Ngày 17 tháng 09 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 08 năm 2020 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 09 năm 2020, đối với:

Bị cáo: Lê Việt T, giới tính: nam; Sinh năm: 1979, tại: Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)

Hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: ấp Lò Vôi, xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: tài xế.

Cha: Lê C, sinh năm: 1944; Mẹ: Từ Thị Mỹ D, sinh năm: 1950. Bị cáo là con thứ tư trong gia đình có năm anh chị em. Vợ: Nguyễn Thị Ý T, sinh năm 1983. Có hai người con, sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Bản án số 94/2005/HSPT ngày 15/8/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt Lê Việt T bị xử phạt 30 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 14/8/2007.

Bị cáo hiện đang được tại ngoại.

Bị hại: Đỗ Văn Q, sinh năm 1981. (Đã chết)

Địa chỉ: Tổ 17, ấp Phước Thọ, xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Tổ 17, ấp Phước Thọ, xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1973; địa chỉ: khu phố Hải Bình, thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 16/4/2020, Lê Việt T có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển ô tô, biển số 72C - 111.99 (do anh Nguyễn Văn T2 làm chủ sở hữu) ưu thông tr n đường V Thị Sáu theo hướng đi từ Ngã a Lò Vôi xã Phước Hưng đến Ngã a hợ ến xã An Ngãi. Đến hu vực vòng xuyến Hải Sơn thuộc ấp Hải Sơn, xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu à đoạn đường có biển báo hiệu “Nơi giao nhau chạy theo vòng xuyến” và “Đường người đi ộ cắt ngang”, Trường mở đ n xi nhan và đánh ái sang n phải điều hiển x ô tô đi vào vòng xuyến đi về hướng Ngã a hợ ến đã để mặt trước n phải đầu x ô tô va chạm với tay ái, th n x ph a sau n trái của xe mô tô, biển số 72D1 - 233.81 do anh Đỗ Văn Q điều khiển ph a trước cùng chiều àm anh Q và x mô tô t ngã xuống đường, ị phần đầu bên phải xe ô tô của Trường o về ph a trước, ánh x ô tô cán qua phần bụng của anh Q làm anh Q chết tại hiện T và x mô tô hư hỏng. Tại ơ quan điều tra, Lê Việt T đã hai nhận toàn bộ hành vi như đã n u tr n.

Hiện Trường vụ tai nạn:

Đoạn đường xảy ra tai nạn là khu vực vòng xuyến Hải Sơn thuộc ấp Hải Sơn, xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Mặt đường bằng phẳng, trải bê tông nhựa. Khu vực xảy ra tai nạn có biển báo hiệu đường bộ R303 “Nơi giao nhau chạy theo vòng xuyến” và W224 “Đường người đi ộ cắt ngang”.

Lấy cột điện số 473LD/295 àm điểm mốc. Lấy m p đường phía bên phải theo hướng từ Ngã ba Chợ bến đến Ngã ba Lò Vôi làm lề chuẩn để đo các số liệu.

Sau khi tai nạn xảy ra:

- Nạn nhân nam, cao 1m65, nằm ngửa. Đầu của nạn nh n đo đến lề chuẩn là 19m. Khoảng cách từ bàn chân trái của nạn nh n đo đến lề chuẩn là 17m60.

- Xe mô tô, biển số 72D1 - 233.81 ngã sang phải, đầu x hướng đến lề chuẩn, đuôi x hướng đến ề trái; từ hình chiếu t m trục ánh trước của x mô tô đo đến ề chuẩn à 20m80; từ hình chiếu t m trục ánh sau của x mô tô đo đến ề chuẩn à 22m.

- Xe ô tô, biển số 72 - 111.99 đang đỗ. Đầu x hướng đến Ngã 3 hợ ến, đuôi xe hướng đến Ngã a Lò Vôi. Từ hình chiếu t m trục ánh trước n trái của x ô tô đo đến ề chuẩn à 43m10. Từ hình chiếu t m trục ánh sau n trái x ô tô đo đến ề chuẩn à 40m20. Từ hình chiếu t m trục ánh sau n trái của x ô tô đo đến hình chiếu t m trục ánh trước của x mô tô à 24m20.

Vị tr dấu vết cày hướng đến x mô tô, iển số 72D1 - 233.81. Độ dài dấu vết cày à 9m50. Từ đầu dấu vết cày hướng đến x mô tô đo đến đầu nạn nh n à 4m.

Vị tr cột điện số 473LD/295: hoảng cách từ cột điện đo đến đầu dấu vết cày hướng đến x mô tô à 5m80.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 142/PC09-Đ2-PY ngày 07/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận:

+ Dấu hiệu ch nh qua giám định: Tràn máu hoang ụng. V nát th y phải gan. V thận phải. Tụ máu rải rác mạc tr o ruột. V xương cánh chậu phải.

+ Nguyên nhân chết: Đỗ Văn Q chết do hấn thương ụng n: V nát th y phải gan, v thận phải, tụ máu mạc tr o ruột, v xương cánh chậu phải, xuất huyết nội.

+ Kết luận khác: Vật tác động gây chết là vật tày, diện tiếp xúc rộng, tác động trực tiếp vào v ng ụng chậu cơ thể nạn nh n th o cơ chế n n- p. Trong máu tử thi Đỗ Văn Q hông tìm thấy c n thano .

- Tại Bản ết uận giám định số 490/P 09-Đ2 ngày 15/5/2020 của Phòng ỹ thuật hình sự ông an tỉnh à Rịa - Vũng Tàu ết uận:

hu vực va chạm đầu ti n tr n x mô tô, biển số 72D1 - 233.81 à tay ái n trái, th n x ph a sau n trái.

hu vực va chạm đầu ti n tr n x ô tô, iển số 72 - 111.99 à mặt trước và mặt dưới trục đà hai ánh trước, giảm xóc trước n phải.

+ Xe mô tô, biển số 72D1 - 233.81 và x ô tô, iển số 72 - 111.99 ưu thông c ng chiều.

- Theo biên bản về việc kiểm tra n ng độ c n trong hơi thở đối với L Việt Trường do ông an huyện Long Điền lập lúc 15 giờ 45 phút ngày 16/4/2020 xác định: N ng độ c n trong hơi thở của Lê Việt Trường à 0.00 mg/ .

- Th o i n ản x t nghiệm chất ma túy đối với L Việt T do ông an huyện Long Điền ập vào úc 16 giờ ngày 16/4/2020 xác định: L Việt T hông sử dụng ma túy.

Nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn giao thông đường bộ tr n được xác định là do Lê Việt T điều khiển x ô tô đi vào vòng xuyến không chấp hành biển báo hiệu giao thông đường bộ, hông chú ý quan sát n n hi vượt x đã để va chạm vào xe mô tô do anh Đỗ Văn Q đang điều khiển ph a trước cùng chiều gây ra vụ tai nạn, hậu quả làm anh Q chết đã vi phạm khoản 5 Điều 4; khoản 1 Điều 11; Điều 14 Luật giao thông đường bộ năm 2008.

Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 xe mô tô, biển số 72D1 - 233.81 và 01 xe ô tô, biển số 72C-111.99, ơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng giao trả cho chủ sở hữu anh Nguyễn Văn T2 và chị Nguyễn Thị N (là vợ của anh Q).

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện chủ xe và bị cáo Lê Việt T đã i thường thiệt hại cho gia đình của nạn nh n Đỗ Văn Q số tiền 250.000.000đ, đại diện gia đình nạn nh n đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu b i thường gì th m và có đơn ãi nại cho bị cáo T. Đối với xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng, sau khi nhận lại xe anh T2 và chị N không yêu cầu b i thường.

Tại phiên tòa: Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Việt T từ 1năm 6 tháng đến 2 năm t .

Về vật chứng: 01 xe mô tô, biển số 72D1 - 233.81 và 01 xe ô tô, biển số 72C-111.99, ơ quan ảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng giao trả cho chủ sở hữu anh Nguyễn Văn T2 và chị Nguyễn Thị N (là vợ của anh Q) nên không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo à đúng th o bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng; bị cáo nói lời nói sau cùng đã ăn năn hối cải, hứa sẽ không tái phạm và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; sau khi nghe quan điểm Kiểm sát viên, ý kiến của bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của ơ quan điều tra Công an huyện Long Điền, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của ơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của ơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo L Việt T đã hai nhận toàn bộ hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã n u. X t thấy, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại ơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong h sơ vụ án được thẩm tra tại phi n tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 13 giờ 20 phút ngày 16/4/2020, Lê Việt T (có giấy ph p ái x th o quy định) điều khiển xe ô tô, biển số 72C - 111.99 ưu thông tr n đường V Thị Sáu theo hướng đi từ Ngã a Lò Vôi xã Phước Hưng đến Ngã a hợ ến xã An Ngãi. hi đi đến hu vực vòng xuyến Hải Sơn thuộc ấp Hải Sơn, xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu à đoạn đường có biển báo hiệu “Nơi giao nhau chạy theo vòng xuyến” và “Đường người đi ộ cắt ngang”, T không chấp hành biển báo hiệu giao thông đường bộ, hông chú ý quan sát n n hi vượt x đã để va chạm vào xe mô tô, biển số 72D1 - 233.81 do anh Đỗ Văn Q đang điều khiển ph a trước cùng chiều gây ra vụ tai nạn đã vi phạm khoản 5 Điều 4, khoản 1 Điều 11 và Điều 14 Luật giao thông đường bộ năm 2008. Hậu quả anh Đỗ Văn Q chết do hấn thương ụng n: V nát th y phải gan, v thận phải, tụ máu mạc tr o ruột, v xương cánh chậu phải, xuất huyết nội. Vì vậy hành vi của bị cáo Lê Việt T đã phạm vào tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự như sau: 1.“Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm qui định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các T hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000đ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết một người;

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như tr n à đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của ị cáo L Việt T à nguy hiểm cho xã hội, đã x m phạm đến trật tự an toàn hi tham gia giao thông đường ộ, đ ng thời x m phạm đến t nh mạng của người hác, g y ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, hậu quả của vụ án à nghi m trọng g y ra cái chết của anh Đỗ Văn Q n n cần xử ý ị cáo với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà ị cáo đã g y ra.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nh n th n của ị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phi n tòa, ị cáo đã thành hẩn hai áo, ăn năn hối cải; ị cáo đã i thường thiệt hại cho ị hại; ị hại cũng đã có đơn xin ãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo; đ y à các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, hoản 1 điều 51 và hoản 2 Điều 51 ộ uật hình sự. Hội đ ng x t xử sẽ xem xét các tình tiết tr n để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho ị cáo.

- Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo đã ị Tòa án nhân dân Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” tại bản án số 94/2005/HSPT ngày 15/8/2005.

ăn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đ ng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công d n có ch cho gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện chủ xe và bị cáo Lê Việt T đã i thường thiệt hại cho gia đình của nạn nh n Đỗ Văn Q số tiền 250.000.000đ, đại diện gia đình nạn nh n đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu b i thường gì thêm; Đối với xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng, sau khi nhận lại xe anh T2 và chị N không yêu cầu b i thường nên Hội đ ng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng trong vụ án: 01 xe mô tô, biển số 72D1 - 233.81 và 01 xe ô tô, biển số 72C-111.99, ơ quan ảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng giao trả cho chủ sở hữu anh Nguyễn Văn T2 và chị Nguyễn Thị N (là vợ của anh Q) nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm th o quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1 . Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Việt T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

ăn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt ị cáo L Việt T 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày ị cáo ị ắt để thi hành án.

2. Về vật chứng: Các vật chứng đã giao trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét giải quyết.

3. Án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 136 ộ uật Tố tụng Hình sự và điểm a hoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án ph , ệ ph Tòa án: uộc bị cáo Lê Việt T phải chịu 200.000 đ ng (Hai trăm ngàn đ ng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17-9-2020), bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để yêu cầu xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ