vanban.org

Bản án 95/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Dương Đức N.

Về con chung: Giao cháu Dương Minh Q – sinh ngày 16/5/2018 cho chị Nguyễn Thị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh Dương Đức N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ HUYỀN YÊU CẦU LY HÔN DƯƠNG ĐỨC NAM"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Dương Đức N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 22-9-2020
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Tịnh Thới

Bà Vũ Thị Đượm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Dung– Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 199/2020/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2020/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H – sinh năm 1997 (vắng mặt)

ĐKTT: Ấp 5, xã N, huyê ên M, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Dương Đức N– sinh năm 1992 (vắng mặt)

ĐKTT: Ấp B, xã T, huyê ên L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị Nguyễn Thị H và anh Dương Đức N kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 13/11/2017 tại UBND xã T. Cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp; anh Nam hay ghen tuông vô cớ, đánh đập, bạo hành chị Huyền. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 11/2019 cho đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H yêu cầu ly hôn với anh N vì tình cảm vợ chồng không còn nữa.

Vợ chồng có một con chung tên Dương Minh Q – sinh ngày 16/5/2018 do chị H nuôi dưỡng từ khi vợ chồng ly thân đến nay. Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Vợ chồng không có nợ chung, không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Dương Đức N đã được Tòa án triệu tập nhiều lần, nhưng vẫn không đến Tòa án làm việc, anh N cũng không cung cấp chứng cứ hay trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn không chấp hành triệu tập của Tòa án là không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Dương Đức N; giao con chung Dương Minh Q – sinh ngày 16/5/2018 cho chị H nuôi dưỡng. Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Dương Đức N tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2017, có thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định, nên hôn nhân của anh chị được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H: Chị H trình bày Cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp; anh N hay ghen tuông vô cớ, đánh đập, bạo hành chị H. Còn anh Dương Đức N đã được Tòa án triệu tập nhiều lần, nhưng vẫn không đến Tòa án làm việc. Anh N cũng không cung cấp chứng cứ hay trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị H.

Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 11/2019 cho đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng và không còn muốn tiếp tục chung sống với anh N, còn anh N thì cũng thờ ơ trong tình cảm đối với chị H, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Do đó, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nghĩ nên chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh N.

Về con chung: Cháu Dương Minh Q – sinh ngày 16/5/2018 hiện do chị H nuôi dưỡng, nên tiếp tục giao cho chị H nuôi dưỡng. Chị H không có yêu cầu về cấp dưỡng cho con chung, nên không xem xét, giải quyết.

Chị H khai vợ chồng không có nợ chung, không có tài sản chung, nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Dương Đức N.

2. Về con chung: Giao cháu Dương Minh Q – sinh ngày 16/5/2018 cho chị Nguyễn Thị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Anh Dương Đức N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản.

Khi cần thiết, anh Dương Đức N và chị Nguyễn Thị H được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như yêu cầu về việc cấp dưỡng cho con.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) chị Nguyễn Thị H nộp theo biên lai thu số 0009244 ngày 18/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được tính trừ vào án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ