- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "bà mai tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Toàn"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân; Điều 157 Bộ luật tố tụng dân
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ ––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2020/ DS-PT Ngày: 28 /12/2020 V/v: “Tranh chấp quyền sử du ̣ng đất (Lối đi) ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Ái
- Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang;
Ông Nguyễn Việt Tiến.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang- Cán bộ Toà án tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ:Tôn Thị Thanh Hương – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28/12/2020 tại Hội trường Toà án nhân tỉnh Phú Thọ mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý sè 58/2020/TLPT-DS:ngày 07 tháng 10 năm 2020 “ Tranh chấp quyền sử dụng đất gắn liền với lối đi ”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 08/2020/DS-ST ngày 23/07/2020 Tòa án nhân dân huyện H bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 62 /2020/DAPT ngày 09/11/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Cù Thị M, sinh năm 1961;
Địa chỉ: khu 1, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
Ngườ i bảo vê ̣ quyền và lợi ich hợp phá p của Nguyên đơn:
́
1. Ông Bùi Minh B - Luâ ̣t sư - thuô ̣c văn phòng luâ ̣t sư A;
2. Bà Nguyễn Thi ̣ Bích N - Cán bô ̣ thuô ̣c văn phòng Luâ ̣t sư A; Đi ̣a chi:̉ tru ̣ sở P905, tòa nhà Ct4 - 5, ngõ 6, phố D, quâ ̣n C, Hà Nô ̣i; ( có mă ̣t)
Bị đơn: Ông Cù Văn T, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1980. (Ông T đã ủy quyền cho bà C theo văn bản ủy quyền ngày 24/12/2019).
Ngườ i làm chứ ng: Ông Vi Ngo ̣c Đ, sinh năm 1947; ( Vắng mă ̣t)
Đều có địa chỉ: khu 1, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ;
Người kháng cáo: Nguyên đơn: Bà Cù Thị M
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/07/2019, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án,nguyên đơn bà Cù Thi ̣ M trình bày:
Từ những năm 1990, gia đình bà đã sử dụng ổn định thửa đất số 126, tờ bản đồ số 08 tại khu 01 xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00064, ngày 15/8/2000. Vào thời điểm từ năm 1990, gia đình bà đã xây dựng nhà và các công trình phụ trợ khác trên đất vì lúc đó chưa có lối đi ra đường của khu dân cư nên bà có đặt vấn đề và đi nhờ trên đất của ông bà Huân Lộc (lối đi của gia đình bà hiện tại), sau đó thì bà có mua lại phần đất này để làm lối đi riêng của gia đình. Gia đình bà và gia đình ông bà ĐT đã viết giấy mua bán vào ngày 20/4/1991 với nội dung “ Gia đình tôi có bán cho gia đình ông Bùi Gia Q và bà Cù Thị M cái cổng chiều dài từ trên nhà xuống đường cái lớn chiều rộng là 3m, số tiền là 150.000.đ”. Năm 1996, gia đình bà đã xây nhà cấp 4 và đổ bê tông cổng từ nhà xuống đường xóm, trụ cổng thì xây tụt ở giữa phía trong và có xây tường bao quanh hết phần đất xuống đường khu dân cư. Từ khi xây dựng và sử dụng cho đến nay không có tranh chấp với hộ dân nào liền kề, xung quanh. Từ khi gia đình anh chị T C đến ở thì thời gian đầu do nể tình hàng xóm nên gia đình bà đã cho đập một phần bức tường bao thấp xuống còn khoảng 50cm để tiện cho gia đình anh Toàn vận chuyển vật liệu để xây dựng nhà. Tiếp sau đó thì anh chị T C cũng đã xây lại bức tường cũ cao 50 cm để cho kín cõi đất xây dựng trên nền móng của chân tường cũ vẫn còn. Cũng vào thời điểm đó gia đình anh chị T C chỉ xây dựng quán nhỏ để bán hàng không ảnh hưởng đến lối đi của gia đình nhà bà. Ngày 13/4/2017, gia đình ông bà T C đã tự ý ngang nhiên mở một cái cửa xếp hướng về phần đất lối đi của gia đình nhà bà, chiếm dụng lối đi của gia đình nhà bà để làm nơi kinh doanh buôn bán gây mật trật tự, xả rác bừa bãi làm mất vệ sinh môi trường gây ảnh hưởng tới việc đi lại, sinh hoạt, nghỉ ngơi của gia đình bà. Gia đình bà cũng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng gia đình ông bà C T không khắc phục mà còn tiếp diễn và gây bức xúc cho cả các hộ xung quanh. Gia đình bà xây trụ cổng thì bị gia đình ông bà T C ngăn cản. Sự việc xảy ra, gia đình bà đã có đơn đề nghị cấp chính quyền từ khu, xã hòa giải nhưng không thành. Gia đình ông bà T C còn ngang nhiên chiếm dụng, sử dụng mặt bằng đổ bê tông sạch sẽ, kiên cố, khang trang trên phần đất thuộc lối đi của gia đình bà để kinh doanh, buôn bán kiếm lời. Nay bà yêu cầu Tòa án buộc ông bà T C chấm dứt hành vi chiếm dụng, sử dụng trái phép đất, tài sản trên đất và việc tư lợi trổ cửa hàng hướng sang đất, tài sản trên đất thuộc lối đi riêng của gia đình nhà bà để kinh doanh, buôn bán kiếm lời. Trả lại nguyên vẹn hiện trạng lối đi riêng của gia đình bà như ban đầu trên phần đất mặt bằng đổ bê tông là lối đi riêng của gia đình nhà bà.
Yêu cầu ông bà T C tháo dỡ bỏ bức tường của ki ốt xây trên móng tường bao cũ của gia đình bà, trả lại nguyên trạng phần móng tường bao cũ của gia đình bà để gia đình bà xây lại tường bao hết phần đất cổng thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp là lối đi riêng của gia đình bà.
Bị đơn: Ông Cù Văn T và bà Nguyễn Thị C (Ông T đã ủy quyền cho bà C theo văn bản ủy quyền ngày 24/12/2019).
Bà Nguyễn Thị C trình bày: Gia đình bà là hàng xóm cạnh nhà bà Mai. Sự việc bà M trình bày như trên là không đúng. Gia đình xây nhà ở và sử dụng từ năm 2000, nguồn gốc là của bố mẹ chồng bà, quá trình sử dụng không có tranh chấp với ai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2017, gia đình bà có mở một cánh cửa sếp gắn liên vớ i bứ c tườ ng nhà, trên đất nhà gia đình bà. Bà M đã yêu cầu gia đình bà xây bịt lại và còn vu khống cho gia đình bà đập tường của gia đình bà M và xây trên móng của gia đình bà Mai. Đối với phần lối đi của gia đình bà Mai, theo bà được biết chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có xác nhận giấy tờ của chính quyền địa phương. Bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Ý kiến của ông Bùi Minh B - Luâ ̣t sư và bà Nguyễn Thi ̣ Bích N trinh bày:
̀ Luâ ̣t sư cùng quan điểm thân chủ là giữ nguyên quan điểm khở i kiê ̣n, về quan điểm vu ̣ án: Nguồn gốc, quá trinh sừ
̉ du ̣ng và lối đi riêng của gia đinh bà
̀ M, gia đinh bà
̀ M đa đi nhỡ
̀ của nhà ông bà Huân Lô ̣c từ năm 1990. Cuối năm 1990 gia đinh ông bà
̀ Huân Lô ̣c bán cho gia đinh ông bà
̀ Đứ c Thuâ ̣n. Đến năm 1991 gia đinh bà
̀ M đa mua la ̣̃
i mô ̣t phần đất vườ n làm lối đi riêng chiều rô ̣ng là 3m, chiều dài cha ̣y dài từ nhà xuống đườ ng cái lớ n. Sau khi mua xong gia đình bà M sử du ̣ng ổn đi ̣nh liên tu ̣c và mu ̣c đich sinh hoa ̣t đi la ̣i của gia đinh. Hiê ̣n tra ̣ng lối đi
́
̀ riêng thể hiê ̣n rõ duy nhất gia đình bà M sử du ̣ng để đi ra đườ ng đi chung của khu dân cư. Còn gia đinh ông bà
̀ C Toàn và các gia đinh khà
́c tiếp ráp trực tiếp đườ ng đi của khu dân cư. Gia đinh bà M đa đỗ ̉ bê tông, xây tườ ng bao lối đi
̀
riêng từ sân nhà xuống đườ ng đi của khu dân cư. Hiê ̣n tra ̣ng sự khác biê ̣t về vâ ̣t liê ̣u xây dựng, dấu vết loang ố, rêu mốc về thờ i gian vớ i lối đi và đường đi của khu dân cư.
Về hồ sơ quản lý đất đai của đi ̣a phương thi ta ̣̀ i bản đồ 299, tờ bản đồ số 8, thử a đất số 126. Diê ̣n tich 120m2 không thấy thể hiê ̣n lối cổng đi riêng đườ ng đi
́ riêng của gia đinh bà
̀ M là đườ ng giao thông của nhà nướ c quản lý. Điều này đã được khẳng đi ̣nh ta ̣i QĐ số 07 của UBND xa V ngã
̀y 29/3/2018. Căn cứ vào nguồn gốc, quá trinh sừ
̉ du ̣ng đất và quan điểm của UBND xa V cho thẫ
́y lối đi, cổng đi của bà M thuô ̣c quyền sử du ̣ng duy nhất của gia đinh bà M. Viê ̣c phia bi ̣
̀
́ đơn tự ý trổ mở cử a xếp ky ốt hướ ng sang lối cổng đi riêng của gia đinh bà M và
̀ chiếm du ̣ng mă ̣t bằng để kinh doanh là xâm pha ̣m đến quyền sử du ̣ng, sở hữu tài sản của gia đinh bà
̀ M. Đề nghi ̣ Tòa án xem xét giải quyết theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t, để bảo vê ̣ quyền và lợi ich hợ́
p pháp của Nguyên đơn.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 08/2020/DS-ST ngày 23/07/2020 Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Áp dụng Điều 26; 35; 39; 147; 157; 165; 227; 273 Bộ luật tố tụng dân; Á p du ̣ng Điều 105; 106;107 Luâ ̣t đất đai năm 2003; Điều 5; 6; 202; 203 Luâ ̣t đất đai năm 2013; điểm a.1 khoản 2 Điều 27 Nghi ̣ đi ̣nh số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phi vá ̀ lê ̣ phi Tó ̀a án; Điều 42 Pháp lê ̣nh chi phí giám đi ̣nh, đi ̣nh giá..
Tuyên xử: Không chấp nhâ ̣n toàn bô ̣ yêu cầu khởi kiện của bà Cù Thi ̣ M về việc yêu cầu ông bà T C chấm dứt hành vi chiếm dụng, sử dụng trái phép đất, tài sản trên đất và việc tư lợi trổ cửa hàng hướng sang đất, tài sản trên đất thuộc lối đi riêng của gia đình nhà bà để kinh doanh, buôn bán kiếm lời. Trả lại nguyên vẹn hiện trạng lối đi riêng của gia đình bà như ban đầu trên phần đất mặt bằng đổ bê tông là lối đi riêng của gia đình nhà bà. Tháo dỡ bỏ bức tường của ki ốt xây trên móng tường bao cũ của gia đình bà, trả lại nguyên trạng phần móng tường bao cũ của gia đình bà để gia đình bà xây lại tường bao hết phần đất cổng thuộc quyền sử hữu, sử dụng hợp pháp là lối đi riêng của gia đình bà.
Về chi phi đo đa ̣c, thẩm đi ̣nh, xác minh thu thâ ̣p chứ ng cứ và đi ̣nh giá tài
́ sản: Buô ̣c bà Cù Thi ̣ M phải chi ̣u: 4.100.000đ xác nhâ ̣n bà Cù Thi ̣ M đa nô ̣̃ p xong.
Về án phi dân sự sơ thẩm: Bà Cù Thi ̣ M phải chi ̣u 300.000đ. Xác nhâ ̣n bà
́ Cù Thi ̣ M đa nô ̣̃ p 300.000đ theo biên lai thu ta ̣m ứ ng án phi, lê ̣́ phí tòa án số AA/2017/0002136 ngày 06/12/2019 ta ̣i Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyê ̣n H, tinh Phủ
́ Tho ̣;
Bản án còn tuyên các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Ngày 30 tháng 7 năm 2020 bà Cù Thi ̣ M kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa bà Cù Thi ̣ M giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị tòa án cấp phúc thẩm công nhận cổng đi của bà M thuô ̣c quyền sử du ̣ng duy nhất của gia đinh bà M. Viê ̣c phia bi ̣ đơn tự ý trổ mở cử a xếp ky ốt hướ ng sang lối cổng
̀
́ đi riêng của gia đinh bà
̀ M và chiếm du ̣ng mă ̣t bằng để kinh doanh là xâm pha ̣m đến quyền sử du ̣ng, sở hữu tài sản của gia đinh bà
̀ M .
Đại diện viện kiểm sát nhân dân dân tỉnh Phú Thọ có quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận đơn kháng cáo của bà Cù Thi ̣ Mai, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 08/2018/DS-ST ngày 23/07/2020 Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Phú Thọ đã quyết định vì chưa thu thập đầy đủ chứng cứ, vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Cù Thi ̣ M làm trong hạn luật định được xem xét giải quyết.
Về nội dung kháng cáo: Bà Cù Thi ̣ M đề nghị kháng cáo yêu cầu công nhận cổng đi của bà M thuô ̣c quyền sử du ̣ng duy nhất của gia đinh bà M.
̀ Viê ̣c phia bi ̣ đơn tự ý trổ mở cử a xếp ky ốt hướ ng sang lối cổng đi riêng của gia
́ đinh bà
̀ M và chiếm du ̣ng mă ̣t bằng để kinh doanh là xâm pha ̣m đến quyền sử du ̣ng, sở hữu tài sản của gia đinh bà
̀ M.
Xét thấy việc tranh chấp bà Cù Thi ̣ M yêu cầu ông bà T C chấm dứt hành vi chiếm dụng, sử dụng trái phép đất, tài sản trên đất và việc tư lợi trổ cửa hàng hướng sang đất, tài sản trên đất thuộc lối đi riêng của gia đình nhà bà để kinh doanh, buôn bán kiếm lời. Trả lại nguyên vẹn hiện trạng lối đi riêng của gia đình bà như ban đầu trên phần đất mặt bằng đổ bê tông là lối đi riêng của gia đình nhà bà. Tháo dỡ bỏ bức tường của ki ốt xây trên móng tường bao cũ của gia đình bà, trả lại nguyên trạng phần móng tường bao cũ của gia đình bà để gia đình bà xây lại tường bao hết phần đất cổng thuộc quyền sử hữu, sử dụng hợp pháp là lối đi riêng của gia đình bà.
Căn cứ các tài liệu các đương sự cung cấp thấy rằng: Quá trinh là
̀m viê ̣c, Tòa án đa xã ́c minh ta ̣i UBND xa V vã
̀ Phòng tài nguyên và môi trường huyê ̣n H cung cấp: Diê ̣n tich đất phia ngoài cổng sắt hô ̣ gia đinh bà Cù Thi ̣ Mai.
́
́
̀ Sau khi kiểm tra đo đa ̣c, thẩm đi ̣nh thực tế và các tài liệu đi ̣a chinh ,ý kiến của
́ ủy ban nhân dân xã V ,phòng tài nguyên môi trường huyện H, xác đi ̣nh phần đất đang tranh chấp giữa bà M và vợ chồng ông T, bà C là diê ̣n tich đấ
́t đường đi liên thôn thuô ̣c quản lý của Nhà nướ c. Không thuô ̣c diê ̣n tich đấ
́t trong giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất của bà M. Do vâ ̣y viê ̣c bà M khở i kiê ̣n là không có căn cứ .
Ta ̣i biên bản lấy lờ i khai của ông Vi Ngo ̣c Đ cho rằng trướ c đây gia đình ông có mua mô ̣t mảnh đất thổ cư ta ̣i khu 1, xa V. Gia đĩ
nh ông ở ta ̣i đó mô ̣t thời
̀ gian diê ̣n tich khoá
̉ng 05 sào. Năm 1991 ông có bán cho bà Cù Thi ̣ M mô ̣t phần đất vườ n có chiều rô ̣ng là 03m, chiều dài khoảng 10m để gia đinh bà
̀ M là m đườ ng đi. Ta ̣i thờ i điểm đó ông không có bất cứ mô ̣t giấy tờ gi liên quan đếǹ giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất của lối đi này. Hai bên tự mua bán vớ i nhau. Khi bán cho bà Cù Thi ̣ M ông có viết giấy mua bán nhưng không có xác nhận của chinh quyền đi ̣́
a phương và không có ai là ngườ i làm chứ ng viê ̣c này là không có căn cứ vi diê ̣̀
n tich đấ
́t này vẫn là đườ ng liên thôn chưa được cấp cho ai bao giờ nên không được chấp nhâ ̣n.
Từ những căn cứ nêu trên không chấp nhận kháng cáo của bà Cù Thi ̣ M sửa bản án sơ thẩm số 08/2020/DS-ST ngày 23/07/2020 Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Phú Thọ
Tại phiên Toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị hủy bản án sơ thẩm số 08/2020/DS-ST ngày 23/07/2020 Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Phú Thọ vì chưa thu thập đầy đủ chứng cứ là chưa phù hợp nên không được chấp nhận.
Về án phí: bà Cù Thi ̣ M kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Cù Thi ̣ M Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2020/DS-ST ngày 23/07/2020 Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Phú Thọ.
[2] - Áp dụng Điều 26; 35; 39; 147; 157; 165; 227; 273 Bộ luật tố tụng dân; Á p du ̣ng Điều 105; 106;107 Luâ ̣t đất đai năm 2003; Điều 5; 6; 202; 203 Luâ ̣t đất đai năm 2013; điểm a.1 khoản 2 Điều 27 Nghi ̣ đi ̣nh số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phi vá ̀ lê ̣ phi ́ Tòa án; Điều 42 Pháp lê ̣nh chi phi giá ́m đi ̣nh, đi ̣nh giá.
-Không chấp nhâ ̣n toàn bô ̣ yêu cầu khởi kiện của bà Cù Thi ̣ M về việc yêu cầu ông bà T C chấm dứt hành vi chiếm dụng, sử dụng trái phép đất, tài sản trên đất và việc tư lợi trổ cửa hàng hướng sang đất, tài sản trên đất thuộc lối đi riêng của gia đình nhà bà để kinh doanh, buôn bán kiếm lời. Trả lại nguyên vẹn hiện trạng lối đi riêng của gia đình bà như ban đầu trên phần đất mặt bằng đổ bê tông là lối đi riêng của gia đình nhà bà. Tháo dỡ bỏ bức tường của ki ốt xây trên móng tường bao cũ của gia đình bà, trả lại nguyên trạng phần móng tường bao cũ của gia đình bà để gia đình bà xây lại tường bao hết phần đất cổng thuộc quyền sử hữu, sử dụng hợp pháp là lối đi riêng của gia đình bà.
Về chi phi đo đa ̣c, thẩm đi ̣nh, xác minh thu thâ ̣p chứ ng cứ và đi ̣nh giá tài
́ sản: Buô ̣c bà Cù Thi ̣ M phải chi ̣u: 4.100.000đ xác nhâ ̣n bà Cù Thi ̣ M đa nô ̣̃ p xong.
Về án phi dân sự sơ thẩm: Bà Cù Thi ̣ M phải chi ̣u 300.000đ. Xác nhâ ̣n bà
́ Cù Thi ̣ M đa nô ̣̃ p 300.000đ theo biên lai thu ta ̣m ứ ng án phi, lê ̣́ phí tòa án số AA/2017/0002136 ngày 06/12/2019 ta ̣i Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyê ̣n H, tinh Phủ
́ Tho ̣;
[3] Về án phi dân phúc thẩm: Bá
̀ Cù Thi ̣ M phải chịu án phí dân phúc thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhâ ̣n bà Cù Thi ̣ M đa nô ̣̃ p 300.000đ theo biên lai thu ta ̣m ứ ng án phi, lê ̣́ phi tó ̀a án số AA/20/000 ngày 13/8/2020 ta ̣i Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyê ̣n H, tỉnh Phú Tho ̣;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKS tỉnh Phú Thọ; - VKS; THADS huyện H; - Các đương sự; - Lưu HS-VP | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Kim Ái |