- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Phạm Văn Ph -Dương Văn L"
- Tòa quyết gì? ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 2 Luật Người cao tuổi
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 945/2023/DS-ST Ngày: 15/6/2023 V/v tranh chấp thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Lê Thị Nhanh
2/ Ông Nguyễn Thành Thông
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên - Thư ký Tòa án nhân
dân Thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 và 15 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 319/2019/DSST ngày 17
tháng 5 năm 2019 về “Tranh chấp thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 1749/2023/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2023 và Quyết định
hoãn phiên tòa số ngày 6045/2023/QĐST-DS, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Văn Ph, sinh năm 1961. Địa chỉ: USA.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Th, sinh
năm 1993 (Theo hợp đồng ủy quyền số công chứng 007579 quyển số 04/TP/CC-
SCC/HĐGD lập ngày 18/11/2020 tại Văn phòng Công chứng L). Địa chỉ: Số
605, đường T, Phường B, Quận N, Thành phố H.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Huỳnh
Phi L là Luật sư Văn phòng luật sư Q - Đoàn luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Số
605 đường T, Phường B, Quận N, Thành phố H.
Bị đơn: Ông Dương Văn L, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số 83/2, (số mới 563
đường L, tổ B), khu phố N, phường H, Quận M, Thành phố H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Phạm Thị Nh, sinh năm 1953. Địa chỉ: Số 42/2, đường H, phường
H, Quận H, Thành phố H.
2/ Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1965.
3/ Bà Nguyễn Thị Ch (chết 2021).
Cùng địa chỉ: Số 51/4, khu phố b, phường H, Quận H, Thành phố H.
4/ Ngân hàng S.
Địa chỉ: Số 19-21-23-25, đường H, phường N, Quận M, Thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng S:
- Bà Nguyễn Thị Diễm Ph, sinh năm 1985. Địa chỉ: Căn hộ 3.04 lô A
chung cư 4S, đường số 17, phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức (quận Thủ Đức cũ), Thành phố H. Địa chỉ liên lạc: Số 242, đường Cống Quỳnh, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Thành phố H. Hoặc
- Bà Nguyễn Thị Yến Nh. Địa chỉ: Số 19-21-23-25 đường H, phường B,
Quận M, Thành phố H. Địa chỉ liên lạc: Số 242 đường C, Phường L, Quận M, Thành phố H.
(Theo giấy ủy quyền số 697/UQ-TGĐ.20.00 ngày 22/12/2020).
5/ Ông Dương Văn N, chết năm 2022.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Dương Văn N
5.1/ Bà Dương Thị Ch, sinh năm 1975.
5.2/ Ông Dương Văn L, sinh năm 1978.
Cùng địa chỉ: Số 83/2, (số mới 563 đường K, tổ B), khu phố N, phường
H, Quận H, Thành phố H
5.3/ Bà Dương Thị Ph, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số 83/2, (số mới 563
đường K, tổ B), khu phố N, phường H, Quận H, Thành phố H. Cùng địa chỉ liên lạc: Số 551/16/3, đường K, khu phố B, phường H, Quận H, Thành phố H.
5.4/ Bà Dương Thị Th, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số 83/2, (số mới 563
đường K, tổ B), khu phố N, phường H, Quận H, Thành phố H. Địa chỉ liên lạc: Số 523/11/2, khu phố N, phường H, Quận H, Thành phố H.
5.5/ Bà Dương Thị B, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số 48/8, ấp L, xã B, huyện
H, Thành phố H. Địa chỉ liên lạc: Số 7A, tổ 2, khu phố 7, phường Thới An, Quận H, Thành phố H.
6/ Bà La Huệ T, sinh năm 1967. Địa chỉ: USA
Người đại diện theo ủy quyền của bà La Huệ T: bà Nguyễn Thị Th, sinh năm
1993 (theo hợp đồng ủy quyền số công chứng 007581 quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 18/11/2020 tại Văn phòng Công chứng L). Địa chỉ: Số 605, đường T, Phường B, Quận N, Thành phố H.
7/ Công ty W.
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty W:
- Ông Huỳnh Thanh L – Trưởng nhóm pháp chế
(theo giấy ủy quyền số 121/2022/UQ-W ngày 21/10/2022)
- Ông Đặng Quốc A – Chuyên viên pháp chế.
(theo giấy ủy quyền số 94/2022/UQ-W ngày 11/7/2022)
Địa chỉ: Tầng 5, M plaza, Số 39, đường D, phường B, Quận M, Thành
phố H.
8/ Bà Dương Thị Ch, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số 83/2, (số mới 563
đường K, tổ B), khu phố N, phường H, Quận H, Thành phố H.
9/ Bà Dương Thị Th, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số 83/2, (số mới 563 đường
K, tổ B), khu phố N, phường H, Quận H, Thành phố H. Địa chỉ liên lạc: Số
523/11/2, khu phố 5, phường H, Quận H, Thành phố H.
10/ Bà Dương Thị B, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số 48/8, ấp L, xã B, huyện
H, Thành phố H. Địa chỉ liên lạc: Số 7A, tổ 2, khu phố 7, phường Thới An,
Quận H, Thành phố H.
11/ Bà Dương Thị Ph, sinh năm 1981.
12/ Anh Võ Hoàng Đông D, sinh năm 2002.
13/ Anh Võ Hoàng Minh Ph, sinh năm 2008.
Cùng địa chỉ: Số 83/2, (số mới 563 đường K, tổ B), khu phố N, phường
H, Quận H, Thành phố H. Cùng địa chỉ liên lạc: Số 551/16/3, đường K, khu phố
B, phường H, Quận H, Thành phố H
14/ Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1981.
15/ Trẻ Dương Minh Th, sinh năm 2006.
16/ Trẻ Dương Minh Đ, sinh năm 2009.
Người đại diện theo pháp luật của trẻ Dương Minh Th và trẻ Dương Minh Đ:
Ông Dương Văn L (cha ruột) và bà Nguyễn Thị Kim T (mẹ ruột).
Cùng địa chỉ thường trú: Số 7/6B, ấp 6, xã Đ, huyện M, Thành phố H. Cùng
địa chỉ liên hệ: Số 83/2, (số mới 563 đường K, tổ B), khu phố N, phường H, Quận H,
Thành phố H.
17/ Ủy ban nhân dân Quận H. Địa chỉ: Số 1, đường R, phường A, Quận
H, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 03/4/2019 của nguyên đơn ông Phạm Văn Ph và
tại các bản tự khai, biên bản hòa giải do bà Nguyễn Thị Th là người đại diện
theo ủy quyền của ông Ph trình bày:
Nguồn gốc nhà đất tọa lạc tại địa chỉ số 83/2 khu phố 5, phường H, Quận
H, Thành phố H thuộc quyền sử dụng, sở hữu của mẹ ông là bà Phạm Thị CH
(chết năm 2007, theo giấy chứng tử số 100, Quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân
dân phường H, Quận H cấp ngày 28/17/2007), cha ông là ông Phạm Văn Ng
(chết năm 1981).
Cha mẹ ông Ph có 04 người con chung gồm: Bà Phạm Thị Nh, sinh năm
1953; bà Phạm Thị L (sinh năm 1955, chết năm 1986); Bà Phạm Thị M (sinh
năm 1957 nhưng đã chết từ nhỏ, không có chồng, con) và ông Phạm Văn Ph,
sinh năm 1959.
Năm 1981, ông Ph đi vượt biên và định cư tại Mỹ, sống cùng với mẹ của
ông là bà Phạm Thị L, chồng và 05 người con của bà L. Năm 1986 bà L chết, các con của bà L vẫn sống chung với bà ngoại là mẹ của ông, thỉnh thoảng ông vẫn gửi tiền về cho mẹ ông và các cháu. Sau đó, ngày 11/5/2011 các con của bà L gồm: Dương Thị Ch, Dương Thị Ph, Dương Thị B, Dương Thị Th và Dương Văn L đã lập Vi bằng “Thỏa thuận đứng tên dùm (hộ) trên giấy tờ nhà đất”, theo nội dung Vi bằng ông Dương Văn L công nhận ông chỉ là người đứng tên dùm trên giấy tờ nhà đất cho ông Phạm Văn Ph (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số 4620 do Ủy ban nhân dân Quận H cấp ngày 04/7/2003). Tiền thanh toán để nhận chuyển nhượng nhà đất do ông Phạm Văn Ph thanh toán, ông L không đóng góp gì vào việc mua nhà. Từ khi đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở nêu trên, ông L đã tự ý làm nhà và quản lý căn nhà theo ý muốn của mình mà không tôn trọng quyết định hay ý kiến của ông Ph, thể hiện qua việc ông L tự ý xây dựng lại nhà và cho người khác thuê nhà mà không thông qua ý kiến của ông Ph. Ông Ph nhiều lần yêu cầu ông L giao nhà và giấy tờ sở hữu nhà nhưng ông L không giao trả.
Nay ông Phạm Văn Ph yêu Tòa án công nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền
sử dụng đất ở đối với nhà đất số 83/2 (số mới 563 đường K, tổ B), khu phố N, phường H, Quận H, Thành phố H là di sản thừa kế của cụ Phạm Thị CH (chết năm 2007) và chia cho các ông/bà Phạm Thị Nh, Phạm Thị L, Phạm Thị M, Phạm Văn Ph. Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 4620 do Ủy ban nhân dân Quận H cấp ngày 04/7/2003 cho ông Dương Văn L.
Tại phiên hòa giải ngày 25/10/2022, phía nguyên đơn đưa ra phương án
thỏa thuận như sau: Ông Phạm Văn Ph sẽ nhận phần diện tích tại vị trí số 8, 9 và một phần tại vị trí số 10 theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 01/02/2021, ông Phạm Văn Ph được quyền trực tiếp ký hợp đồng thuê nhà với Công ty W, ông Ph đồng ý thanh toán lại giá trị phần thừa kế cho bà Phạm Thị Nh và những người thừa kế của ông Đ, đồng thời ông Ph tự nguyện trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền gốc và lãi còn lại tính từ thời điểm ngày 25/10/2022 cho đến khi thanh toán xong số nợ trên. Đối với phần diện tích còn lại theo bản đồ nêu trên, ông Ph đồng ý để ông L và các đồng thừa kế của bà L sở hữu sử dụng, ông L phải chịu trách nhiệm chia lại phần thừa kế của bà L mà ông L, bà Ch, bà Th, bà Ph, bà B là những người thừa kế thế vị của bà L. Nếu các bên đồng ý với phương án này thì ông Ph sẽ rút lại yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
Bị đơn ông Dương Văn L trình bày:
Nhà đất số 83/2 (số mới 563 đường K, tổ B), khu phố N, phường H, Quận
H, Thành phố H có nguồn gốc của ông bà để lại, bà Phạm Thị CH là bà ngoại của ông L. Bà Ch chết năm 2007 không để lại di chúc. Bà Ch có 05 người con là:
1/ Ông Phạm Văn T (chết trước bà Ch), ông T có vợ là Nguyễn Thị Ch và
con là Phạm Văn Đ)
2/ Bà Phạm Thị Nh
3/ Bà Phạm Thị L, chết năm 1986.
4/ Bà Phạm Thị M, chết năm 1974. Bà M không có con
5/ Ông Phạm Văn Ph
Bà L có chồng là ông Dương Văn N và 05 người con là bà Dương Thị Ch,
ông Dương Văn L, bà Dương Thị Ph, bà Dương Thị B, bà Dương Thị Th.
Vợ chồng bà L, ông N cùng 05 người con sống chung với cụ CH. Sau khi
bà L chết thì các con của bà L trong đó có ông L, bà Ch ở chung với bà ngoại là
cụ CH, chăm sóc phụng dưỡng cho đến khi cụ CH chết.
Ông thừa nhận có làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
do ông đứng tên là không đúng. Nay ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, xác định căn nhà và đất nêu trên là di sản của cụ CH để lại và đồng
ý chia thừa kế theo pháp luật. Ông L đề nghị trả lại giá trị tiền mà ông đã bỏ ra
xây dựng sửa chữa nhà và tiền ông vay Ngân hàng để xây dựng nhà đất và giải
quyết hợp đồng cho W thuê làm cửa hàng nêu trên và yêu cầu chia cho ông công
sức quản lý, xây dựng nhà và chăm nom phụng dưỡng bà ngoại tương đương với
một suất thừa kế.
Ông L đồng ý với phương án mà nguyên đơn nêu trên nhưng ông L yêu
cầu phía nguyên đơn phải thanh toán lại cho bà Dương Thị Ph, bà Dương Thị
Th, bà Dương Thị B vì 03 người này luôn ủng hộ việc ông Ph yêu cầu chia thừa
kế. Ông L sẽ chịu trách nhiệm chia thừa kế cho bà Dương Thị Ch. Đối với hợp
đồng cho thuê mặt bằng còn lại 06 năm ông L đề nghị nhận tiền thuê liên tiếp 03
năm, còn lại 03 năm sau thì giao ông Ph nhận tiền thuê hoặc là cả hai bên đều
nhận tiền cho thuê hàng tháng mỗi người nhận ½ số tiền này. Trường hợp không
thỏa thuận được thì ông L yêu cầu Tòa án tính công sức đóng góp trong việc gìn
giữ bảo quản di sản thừa kế theo pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Bà Dương Thị Ch trình bày:
Về quan hệ gia đình của bà Phạm Thị CH: Cụ CH và cụ Phạm Văn Ng là
ông bà ngoại của bà. Cụ CH có 01 người con riêng và có 04 người con chung
với cụ Ng như ông L trình bày là đúng.
Về nguồn gốc nhà đất số 83/2 (số mới 563) đường K, khu phố 5, phường
H, Quận H, Thành phố H mà ông Ph kiện chia thừa kế là của cụ cố Phạm Văn K
và Nguyễn Thị T là cha mẹ của cụ Phạm Thị CH cho cụ CH sau khi cụ CH
không còn chung sống với cụ Phạm Văn Ng. Cụ CH về phần đất này ở cùng con
gái là bà Phạm Thị M được một thời gian thì bà Mại chết. Từ đó bà L là mẹ của
bà đã về chung sống với cụ CH cho tới khi bà L lấy chồng sinh ra 05 chị em bà
đều ở trong căn nhà và đất đến nay. Ông Ph không sống cùng với bà Ch mà sống
cùng với cụ Ng ở T cho đến ngày ông Ph vượt biên sang Mỹ.
Về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo bà Ch biết và chứng kiến,
khi cụ CH còn sống cụ CH và ông Ph đã nói chuyện về phần đất này và bảo bà Ch đi làm giấy chủ quyền nhà, ông Ph sẽ cho tiền làm giấy chủ quyền nhà đứng tên bà Ch nhưng bà Ch không đồng ý, bà đã nói để cho ông L đứng tên vì ông L là con trai, bà Nh và ông Ph đều đã đồng ý nên bà Ch mới quyết định cho ông L đứng tên trên giấy chủ quyền, chị em bà không tự ý làm và ép cụ CH ký giấy lăn tay như ông Ph khởi kiện. Năm 2011, ông Ph trở về Việt Nam yêu cầu lấy giấy chủ quyền, bà Ch không đồng ý vì cho rằng ông Ph đem giấy tờ về Mỹ còn chị em bà ở đây nêu có vấn đề gì liên quan phát sinh đến nhà đất này thì chị em bà xử lý làm sao. Ông Ph viết trong đơn kiện cho rằng ông L hỗn láo cầm hung khí hành hung ông Ph là không đúng, vì tại thời điểm đó 2 người em gái là Dương Thị Ph và Dương Thị B đã chửi và mạt sát ông L và bà nên ông L mới đối phó với hai người em này.
Về Tờ thỏa thuận đứng tên giùm trên giấy chủ quyền nhà đất giữa ông L
và ông Ph được lập tại văn phòng công chứng, có người làm chứng là bà Nh và bà Phạm Thị Tuyết M biết rất rõ sự việc này. Lý do ông Ph yêu cầu ông L làm tờ thỏa thuận này là do tại thời điểm này ông Ph chưa kết hôn. Sợ khi về già không sống ở Hoa Kỳ nữa thì về Việt Nam ông Ph sẽ sống trong căn nhà của mẹ mình là cụ CH vì sợ chị em bà không cho ông Ph về ở. Trước khi lập tờ thỏa thuận này thì bà Nh là dì ruột và bà Phạm Thị Tuyết M đều là chị của ông Ph đã nói chuyện rất rõ rang, căn nhà này là của bà ngoại của bà Ch tức cụ CH để lại cho chị em bà để làm nhà hương hỏa, chỉ được ở khi đến ngày giỗ của ông bà tổ tiên để cho con cháu về thắp hương cho ông bà. Lý do xây nhà là do căn nhà cũ này thấp hơn mặt đường hơn 01m, khi mùa mưa thì nước tràn vào nhà gây hôi thối ô nhiễm nên buộc phải xây dựng lại để ở. Bà Ch đã quyết định ngăn đôi căn nhà làm 2 phần, phần phía trước cho thuê, phần phía sau xây mới để có chỗ thắp nhang thờ cúng ông bà. Chi phí xây dựng nhà hết 03 tỷ, nguồn tiền vay ngân hàng 2.200.000.000 đồng và bà bỏ thêm vào 800.000.000 đồng để hoàn thành căn nhà trên. Nay bà cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật của nguyên đơn nhưng bà cho rằng ông Ph là cậu ruột có trách nhiệm chăm sóc mẹ già mà do ông Ph đã sang định cư ở Mỹ từ năm 1985 đến nay nên sau khi mẹ bà là là Lý chết thì 05 chị em bà ở chung với bà ngoại, bà Ch và ông L là những người trực tiếp quản lý, tu tạo, xây dựng nhà và chăm sóc phụng dưỡng bà ngoại cho đến khi bà ngoại chết. Do đó, bà yêu cầu bán nhà đất nêu trên sau khi trừ trả lại cho bà 800.000.000 đồng mà bà đã bỏ ra xây dựng nhà và trả số tiền nợ do vợ chồng ông L đứng ra vay ngân hàng thì chia thừa kế theo pháp luật trên giá trị còn lại cho các đồng thừa kế, đồng thời bà yêu cầu tính công sức giữ gìn, xây dựng, tôn tạo, quản lý nhà đất và công sức phụng dưỡng bà ngoại tương đương với một suất thừa kế.
Bà Phạm Thị Nh trình bày: Bà là con ruột của cụ Phạm Thị CH, là chị ruột
của ông Ph, bà L. Về nguồn gốc nhà đất như nguyên đơn và bị đơn trình bày là đúng. Về quan hệ huyết thống phía nguyên đơn ông Ph khai cụ CH có 04 người con chung là chưa chính xác, còn thiếu ông Phạm Văn T, cụ CH có 05 người con như phía bị đơn ông L khai là sự thật. Bà cũng đồng ý chia thừa kế theo pháp luật, nhưng khi chia thừa kế phải tính công sức cho các cháu của bà là Dương Văn L và Dương Thị Ch, vì hai người này trực tiếp chăm nom, phụng dưỡng cụ CH, đến
khi cụ CH chết hai cháu vẫn lo thờ cúng tổ tiên và có công sức quản lý, xây dựng,
tôn tạo tài sản như bây giờ nên phải trả lại các chi phí xây dựng và các khoản nợ
vay thực tế mà Châu và Liêm đã bỏ ra. Bà Nh đồng ý để ông Ph thanh toán cho bà
giá trị thừa kế bằng tiền theo quy định.
Bà Dương Thị Ph, bà Dương Thị B và bà Dương Thị Th trình bày:
Về nguồn gốc nhà đất số 563, K khu phố 5, phường H, Quận H, Thành
phố H thuộc quyền của bà Phạm Thị CH (chết năm 2007), các bà không biết
chồng và cha mẹ của bà Ch chết năm nào.
Bà Ch có 03 người con là ông Phạm Văn Ph, bà Phạm Thị Nh và bà Phạm
Thị L là mẹ ruột của các bà. Các bà chỉ biết 03 người này là con của bà Ch còn
những người khác các bà không biết rõ chỉ biết theo lời khai của ông L, bà Ch
và bà Nh.
Bà L có chồng là ông Dương Văn N và 05 người con là Dương Thị Ch,
Dương Văn L, Dương Thị Ph, Dương Thị B, Dương Thị Th. Cha, mẹ bà và các
anh chị em bà đều ở cùng với bà Ch trong căn nhà này cho đến khi các bà đi lấy
chồng thì ở riêng. Năm 2007 bà Ch chết nhưng các bà vẫn thường xuyên về nhà
chăm sóc ông Dương Văn N bị bệnh.
Tháng 5/2019, bà Ch và ông L đã xây dựng mới căn nhà trên. Các bà
đồng ý với yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của nguyên đơn. Các bà yêu cầu được
hưởng thừa kế theo pháp luật, theo quyết định của Tòa án các bà sẽ chấp hành
nhưng không có yêu cầu độc lập. Đối với yêu cầu công sức đóng góp của bà Ch,
ông L thì đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 14/01/2020, ông Dương Văn N trình bày:
Ông N là chồng của bà Phạm Thị L, là con rể của bà Phạm Thị CH, ông N và bà
L có 05 người con chung là Dương Thị Ch, Dương Văn L, Dương Thị Ph,
Dương Thị B, Dương Thị Th. Ông N xác định việc ông Ph khởi kiện chia thừa
kế ông không có ý kiến gì, vì ông đã già yếu cuộc sống hiện tại hoàn toàn phụ
thuộc vào sự chăm sóc phụng dưỡng của các con nên ông N đồng ý theo ý kiến
của các con, đề nghị Tòa căn cứ theo quy định của pháp luật giải quyết. Ông N
xin được vắng mặt trong quá trình tòa giải quyết xét xử vụ án này.
Năm 2020, ông N chết nên ông Dương Văn L, bà Dương Thị Ch, bà
Dương Thị Ph, bà Dương Thị B, bà Dương Thị Th người kế thừa quyền và
nghĩa vụ của ông N.
Ngân hàng S (gọi tắt là SCB) do bà Nguyễn Thị Diễm Ph là người đại
diện trình bày:
Ngày 13/5/2019, ông Dương Văn L cùng vợ là bà Nguyễn Thị Kim T và
Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Cống Quỳnh đã ký Thỏa thuận cho vay trung
dài hạn số 19310032/TD-SCB-CNCQ. Theo đó, SCB cho vợ chồng ông L vay
số tiền 2.200.000.000 đồng, thời hạn vay 300 tháng, lãi suất cho vay và thời hạn
điều chỉnh lãi suất được quy định trên từng bảng kê rút vốn (kiêm khế ước nhận
nợ) hoặc thỏa thuận tín dụng cụ thể. Để đảm bảo cho số nợ vay ông L, bà Tuyến
đã thế chấp nhà và đất số 83/2, khu phố 5, phường H, Quận H, Thành phố H theo Giấy chứng nhận số 4620 (hồ sơ gốc) được Ủy ban nhân dân Quận H cấp ngày 04/7/2003, hai bên đã ký Hợp đồng thế chấp số 191310033/BĐ-SCB-CNCQ ngày 13/5/2019 tại Văn phòng Công chứng N. Sau khi vay ông L vẫn thanh toán nợ gốc và lãi theo thỏa thuận chưa có vi phạm gì. Nay do nhà đất mà ông L thế chấp có tranh chấp, SCB có yêu cầu độc lập trong trường hợp nhà đất là di sản thừa kế thì yêu cầu ông L, bà Tuyến phải trả số tiền vay cùng lãi phát sinh trước hạn cụ thể:
Buộc ông Dương Văn L và bà Nguyễn Thị Kim T thanh toán nợ cho SCB
số tiền 2.083.312.179 đồng gốc, lãi phát sinh (tạm tính đến ngày 21/9/2020) và/hoặc số tiền gốc, lãi thực tính tại thời điểm thanh toán theo Thỏa thuận cho vay trung dài hạn số 191310032/TD-SCB-CNCQ ngày 13/5/2019 ngay khi án có hiệu lực. Trường hợp ông L, bà Tuyến không trả được nợ cho SCB thì SCB có quyền phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số 83/2 (số mới 563 đường K, tổ B), khu phố N, phường H, Quận H, Thành phố H theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất số 191310032/TD-SCB-CNCQ ngày 13/5/2019 để thu hồi nợ theo quy định.
Trường hợp các bên không thỏa thuận được việc chia thừa kế thì SCB yêu
cầu ông L trả nợ ngay cho SCB toàn bộ tiền gốc và lãi. Nếu các bên thỏa thuận được việc chia thừa kế và thống nhất để ông Ph trả nợ thay cho ông L thì SCB cũng đồng ý.
Bà La Huệ T có bà Nguyễn Thị Th là người đại diện hợp pháp trình bày:
Tại Bản tự khai ngày 19/7/2019 Bà T khai: Bà là vợ của ông Phạm Văn
Ph. Căn nhà số 83/2, khu phố 5, phường H, Quận H là căn nhà của các đồng thừa kế bên gia đình ông Ph, bà cũng thống nhất đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của ông Ph, riêng bà xác định bà không tranh chấp không yêu cầu gì. Do bà định cư ở Hoa Kỳ nên xin vắng mặt tại Tòa án nhân dân Thành phố H và từ chối nhận các văn bản, quyết định của Tòa án. Đối với bản án sơ thẩm bà ủy quyền cho ông Lương Hữu Phước là người đại diện của ông Phạm Văn Ph nhận thay.
Tại bản tự khai ngày 31/12/2020 bà Nguyễn Thị Th là người đại diện của
Bà T trình bày: Vào năm 2003 ông L đã tự ý làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận với hình thức là mua bán lại căn nhà từ bà Phạm Thị CH. Ông L đã ngụy tạo giấy tờ vì ông Ph vẫn gửi tiền về phụng dưỡng bà Ch nên bà Ch không túng thiếu đến mức phải bán nhà. Ngày 11/5/2011 ông L đã ký bản thỏa thuận đứng tên dùm trên giấy tờ nhà đất nêu trên. Điều đó thể hiện ông L không phải là người bỏ tiền ra mua nhà đất nêu trên. Sau khi ông L biết ông Ph có ý định khởi kiện ra Tòa chia thừa kế, ông L đã lập tức thế chấp nhà trên cho Ngân hàng S (SCB) để nhằm chiếm đoạt tiền của ngân hàng.
Ngày 22/3/2019, ông Ph đã làm đơn ngăn chặn việc thế chấp, mua bán,
chuyển nhượng, nhà đất gửi Ủy ban nhân dân Quận H, Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận H. SCB trước khi cho vay đã không kiểm tra tình trạng tranh chấp khiếu nại liên quan đến tài sản thế chấp. Do đó đối với yêu cầu độc lập của SCB yêu cầu phát mại nhà đất đang tranh chấp trên để thu hồi nợ thì Bà T không
đồng ý. Bà T thống nhất với ý kiến của ông Ph là sau khi chia thừa kế xong,
SCBs sẽ được quyền thu hồi nợ đối với phần giá trị nhà đất tranh chấp mà ông L
được thừa hưởng từ bà Phạm Thị CH.
Công ty W có ông Đặng Quốc A và ông Huỳnh Thanh L đại diện trình
bày:
Công ty xác định đến thời điểm hiện nay công ty vẫn thực hiện đầy đủ
quyền và nghĩa vụ của bên thuê theo hợp đồng thuê mặt bằng đã ký với ông
Dương Văn L. Thời hạn thuê là 10 năm, hiện tại đã thuê được 04 năm. Công ty
yêu cầu ông L tiếp tục thực hiện hợp đồng cho đến khi hết thời hạn đã thỏa
thuận trong hợp đồng, đối với tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn và những
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác, công ty không có ý kiến, đề nghị
Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa các đương sự cũng thống nhất
chỉ chia thừa kế đối với phần giá trị quyền sử dụng đất, không yêu cầu chia phần
giá trị xây dựng và đề nghị Tòa án căn cứ Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh do
Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày
01/02/2021 và thống nhất diện tích theo hiện trạng là 395,3m2 và thống nhất đề
nghị Hội đồng xét xử căn cứ Chứng thư thẩm định giá số Vc22/05/065/BĐS-TP
do Công ty Cổ phần Đầu tư và Thẩm định giá T lập ngày 23/5/2022 (thì giá trị
đất là 395,3m2 x 120.800.000 đồng/m2 = 47.752.240.000 đồng) để làm căn cứ
giải quyết vụ án.
Các đương sự thống nhất sẽ căn cứ vào các vị trí tương ứng trên Bản đồ
hiện trạng vị trí - áp ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài Nguyên và Môi
Trường Thành phố H lập ngày 01/02/2021 và diện tích được công nhận trong
Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 4620
do Ủy ban nhân dân Quận H cấp ngày 04/7/2003 để tách thửa và cập nhật biến
động cho phù hợp với phần nhà đất mà mỗi bên được chia thừa kế.
Nguyên đơn cho rằng trước đây cũng đồng ý nhận phần diện tích nhà
đất có siêu thị và tự nguyện chia lại cho bà Nh, ông Đ, bà Th, bà Ph, bà B
mỗi người khoảng từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng nhưng do
những người thừa kế này không đồng ý nhận và phía nguyên đơn là người
nước ngoài nên không thể đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà vì vậy nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật cụ
thể nguyên đơn yêu cầu được hưởng 01 suất thừa kế tương đương ¼ giá trị
quyền sử dụng đất khoảng 12 tỷ đồng.
Ông L yêu cầu được hưởng thừa kế và công sức bằng hiện vật, cụ thể yêu
cầu hưởng phần nhà đất phía sau có diện tích 227,8m2 tại vị trí số 1, 4, 5, 6, 7 và
một phần tại vị trí số 10 theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh do Trung tâm đo
đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 01/02/2021, trị
giá 20.234.000.000 đồng, để cho ông Ph được hưởng phần nhà đất có diện tích
227,8m2 tại vị trí số 8, 9, 11 và một phần tại vị trí số 10 theo Bản đồ hiện trạng vị
trí - áp ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 01/02/2021, trị giá 27.518.000.000 đồng, đồng thời đề nghị ông Ph phải chia thừa kế cho những người thừa kế khác và ông Ph phải chịu trách nhiệm trả số nợ ngân hàng và yêu cầu được tiếp tục nhận tiền cho thuê mặt bằng làm siêu thị thêm một năm nữa.
Bà Nh, ông Đ, bà Ph, bà Th, bà B đều đồng ý để ông L được hưởng phần
diện tích nhà đất như ông L yêu cầu và đồng ý để ông Ph được hưởng đủ 01 suất thừa kế theo pháp luật. Số tiền còn lại sau khi trừ đi số tiền ông L bà Tuyến còn nợ Ngân hàng thì bà Nh tự nguyện nhận suất thừa kế tương đương giá trị là 4 tỷ đồng, ông Đ tự nguyện nhận suất thừa kế thế vị tương đương trị giá 3 tỷ đồng, số tiền còn lại chia cho bà Th, bà Ch, bà B, bà Ph mỗi người 1,5 tỷ đồng, đồng thời đề nghị sau khi hết hạn cho thuê nhà và sau khi trả xong nợ sẽ phát mại phần nhà đất có diện tích 227,8m2 tại vị trí số 8, 9, 11 và một phần tại vị trí số 10 theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 01/02/2021 để chia theo tỷ lệ giá trị mà các bên được hưởng như đã nêu trên theo giá trị tại thời điểm phát mại tài sản.
Phía người liên quan Ngân hàng S có bà Nguyễn Thị Diễm Ph là người
đại diện hợp pháp trình bày:
Đối với số nợ mà vợ chồng ông L đã vay tính đến ngày xét xử sơ thẩm thì
số nợ gốc là 1.847.968.000 đồng, lãi trong hạn là 15.553.309 đồng, phí là 18.479.680 đồng. Do ông L vẫn thanh toán đầy đủ tiền lãi và gốc phát sinh không vi phạm nghĩa vụ trả nợ và thời hạn trả nợ chưa hết nên để tạo điều kiện cho phía ông L trả nợ. Ngân hàng cũng đồng ý cho ông L tiếp tục trả số nợ trên theo hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên.
Ông Huỳnh Thanh L đại diện Công ty Cổ phần Dịch vụ Thương mại
Tổng hợp Vincommerce trình bày:
Tính đến thời điểm xét xử thì Công ty Vincommerce đã thuê được hơn
4 năm và thanh toán tiền thuê đầy đủ cho ông L. Phía công ty vẫn đề nghị tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê mặt bằng MBT.03.1937 ngày 25/3/2019. Trường hợp các bên không thống nhất được thì phía công ty sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.
Tại phiên tòa các bên cũng thống nhất để công ty tiếp tục thuê cho đến
khi hết thời hạn theo hợp đồng và vẫn đồng ý để ông L trực tiếp nhận số tiền thuê nhà hàng tháng từ Công ty Vincommerce số tiền này ông L được sử dụng 30 triệu đồng để trả nợ Ngân hàng, số tiền thuê nhà 8.000.000 đồng còn lại ông L sẽ giao cho ông Ph được hưởng.
Đại diện Viện kiểm sát Thành phố H phát biểu quan điểm: Tòa án đã thực
hiện đúng quy định về quá trình thụ lý và giải quyết vụ án; Tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng thủ tục và trình tự phiên tòa quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Xét thấy việc yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật của nguyên
đơn là có căn cứ pháp luật. Tại phiên tòa các bên đương sự đã thỏa thuận được
việc giải quyết vụ án, xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự
nguyện, không trái đạo đức xã hội nên đề nghị hội đồng xét xử ghi nhận sự tự
nguyện này của các đương sự. Tuy nhiên do tại phiên tòa có bà Ch là người thừa
kế thế vị của bà L do vậy đề nghị Hội đồng xem xét đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp của bà Ch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
Về tố tụng:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết
Xét, Đơn khởi kiện về việc tranh chấp chia thừa kế ông Phạm Văn Ph và
yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4620 do Ủy ban nhân dân
Quận H, Thành phố H cấp ngày 04/7/2003 cho ông L.
Xét yêu cầu độc lập của Ngân hàng S yêu cầu vợ chồng ông L bà Tuyến
phải trả các khoản vay và lãi suất theo hợp đồng.
Căn cứ khoản 3, khoản 5 Điều 26, Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì các
yêu cầu khởi kiện trong vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
Thành phố H.
Về sự vắng mặt của đương sự.
Xét thấy tại phiên có mặt bà Nguyễn Thị Th , ông Dương Văn L, bà Phạm
Thị Nh, ông Phạm Văn Đ, bà Nguyễn Thị Diễm Ph, ông Huỳnh Thanh L, bà
Dương Thị Ph, bà Dương Thị B, bà Dương Thị Th.
Ông Võ Hoàng Đông D, Ủy ban nhân dân Quận H, bà Nguyễn Thị Kim T,
bà Dương Thị Ch, ông Đặng Quốc A, bà Nguyễn Thị Yến Nh đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản
điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn
tiến hành xét xử vắng mặt họ.
. Về nội dung:
. Xác định di sản thừa kế
Về nguồn gốc nhà đất số 83/2 (số mới 563) đường K, khu phố 5, phường
H, Quận H, Thành phố H theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh do Trung tâm
Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày
01/02/2021 có diện tích 395,3m2 và theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở
và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 4620 do Ủy ban nhân dân Quận H cấp ngày
04/7/2003 mà ông Ph kiện chia thừa kế là của cụ cố Phạm Văn K và Nguyễn Thị
T là cha mẹ của cụ Phạm Thị CH cho cụ CH sau khi cụ CH không còn chung
sống với cụ Phạm Văn Ng. Bà Phạm Thị L cùng chồng và các con sống cùng
với cụ CH trong căn nhà và đất từ đó đến năm 1986 bà L chết, chồng và các con
bà L vẫn sống cùng cụ CH và phụng dưỡng cụ CH cho đến năm 2007 thì cụ CH chết. Hiện nay ông L đang sinh sống tại nhà đất nêu trên. Ông Ph không sống cùng với cụ CH mà sống cùng với cụ Ng ở T cho đến năm 1981 thì ông Ph vượt biên sang Mỹ.
Nay ông L cũng thừa nhận việc ông tự ý làm thủ tục xin cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà đất nêu trên là không đúng và cũng thừa nhận nhà đất nêu trên là tài sản của cụ CH.
Nhận thấy, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa tất cả các đương sự
đều thừa nhận nhà đất nêu trên là di sản của cụ CH. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định di sản của cụ Phạm Thị CH (chết năm 2007) là căn nhà số 83/2 khu phố 5, phường H, Quận H, Thành phố H.
. Xác định hàng thừa kế
Cụ CH và cụ Ng có 04 người con chung gồm:
Bà Phạm Thị Nh, sinh năm 1953; bà Phạm Thị L, sinh năm 1955 (chết
năm 1986); bà Phạm Thị M sinh năm 1977 chết từ nhỏ và ông Phạm Văn Ph, sinh năm 1959.
Cụ CH có 01 người con riêng là ông Phạm Văn T (chết trước cụ CH)
Như vậy, những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ CH và
cụ Ng là ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị Nh, bà Phạm Thị L, ông Phạm Văn Ph.
Do cụ CH chết không để lại di chúc nên căn cứ vào Điều 651 Điều 652
thì những người thừa kế theo pháp luật được xác định cụ thể như sau:
1/ Bà Phạm Thị Nh
2/ Ông Phạm Văn Ph
3/ Bà Phạm Thị L (chết năm 1986) có những người thừa kế thế vị của bà
L gồm: Bà Dương Thị Ch, ông Dương Văn L, bà Dương Thị Th, bà Dương Thị Ph, bà Dương Thị B.
4/ Ông Phạm Văn T (chết trước cụ CH) có người thừa kế thế vị của ông T
là ông Phạm Văn Đ.
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật
đối với phần nhà đất nêu trên. Như đã phân tích nêu trên cho thấy nhà đất số 83/2 (số mới 563) đường K, khu phố 5, phường H, Quận H, Thành phố H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hồ sơ gốc số 4602, do Ủy ban nhân dân Quận H cấp ngày 04/7/2003 là di sản của cụ CH để lại nhưng do cụ CH chết không để lại di chúc nên ông Ph yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật là có căn cứ.
. Phân chia di sản thừa kế;
Xét thấy tại phiên tòa phía nguyên đơn và bị đơn cùng những người liên
quan cũng thống nhất về việc chia thừa kế cụ thể:
Ông Ph cùng những đồng thừa kế khác là bà Nh, ông Đ, bà Th, bà B, bà
Ph cùng thống nhất để ông L được hưởng thừa kế và một phần công sức trong
việc chăm sóc phụng dưỡng cụ CH, trông coi quản lý và có công sức làm tăng
giá trị nhà đất cụ thể: Ông L được nhận hiện vật là quyền sở hữu và sử dụng một
phần nhà đất tọa lạc tại số số 83/2 (số mới 563) đường K, khu phố 5, phường H,
Quận H, Thành phố H có diện tích 165,7m2 tại các vị trí số 1,4,5,6,7 và một
phần vị trí số 10 theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh do Trung tâm đo đạc bản
đồ - Sở Tài nguyên và Môi Trường Thành phố H lập ngày 01/02/2021 (Viết tắt
là khu II), trị giá 20.234.000.000 đồng.
Ông Ph cùng những đồng thừa kế khác là bà Nh, ông Đ, bà Th, bà B, bà
Ph cùng thống nhất được quyền hưởng giá trị quyền sở hữu nhà và quyền sử
dụng đất một phần nhà đất tọa lạc tại số số 83/2 (số mới 563) đường K, khu phố
5, phường H, Quận H, Thành phố H có diện tích 227,8m2 tại vị trí số 8, 9, 11 và
một phần tại vị trí số 10 theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh do Trung tâm đo
đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 01/02/2021
(viết tắt là khu I) có giá trị là 27.518.000.000 đồng.
Bà Nh, ông Đ, bà Th, bà B, bà Ph đều đồng ý chia cho ông Ph được
hưởng thừa phần giá trị quyền sử dụng đất là 12.000.000.000 đồng (tương
đương 43,61% khu I). Số tiền còn lại sẽ tự nguyện trả lại cho ông L tổng số tiền
ông L bà Tuyến vay nợ Ngân hàng tính đến thời điểm xét xử là 1.882.000.989
đồng làm tròn là 1.882.000.000 đồng
Bà Nh tự nguyện nhận hưởng phần giá trị nhà đất là 4.000.0000.000
đồng(tương đương 14,54% khu I).
Ông Đ tự nguyện nhận hưởng phần giá trị nhà đất là 3.000.0000.000
đồng(tương đương 10,9% khu I).
Phần tiền còn lại sẽ chia cho bà Th, bà Ch, bà B, bà Ph mỗi người 1,5 tỷ
đồng (tương đương 5,45% khu I).
Bà Ph, bà B, bà Th cũng đồng ý nhận mỗi người 1,5 tỷ đồng.
Các đương sự cũng thống nhất chia cho bà Ch 636.000.000 đồng tiền
công sức chăm sóc phụng dưỡng cụ CH và trông coi quản lý nhà đất.
Xét thấy sự thỏa thuận này của các đương sự là tự nguyện và có lợi đối
với phía nguyên đơn vì nếu chia theo pháp luật thì phía nguyên đơn chỉ được
hưởng khoảng 9.400.000.000 đồng. Do đó hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với bà Ch tại phiên tòa vắng mặt nhưng trong các bản tự khai bà Ch
có trình bày bà cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật
của nguyên đơn nhưng bà Ch cho rằng bà là người có công sức đã bỏ
800.000.000 đồng là tiền riêng của bà ra cùng ông L trong quá trình xây dựng
nhà nên cũng xin được tính công sức và yêu cầu trả lại số tiền mà bà đã bỏ ra.
Tuy nhiên, bà Ch lại không có đơn yêu cầu độc lập, Tòa đã triệu tập hợp lệ rất
nhiều lần nhưng bà Ch vắng mặt không có lý do để đảm bảo quyền lợi của bà Ch
Hội đồng xét xử xét thấy thực tế bà Ch cũng có một phần công sức trong việc
chăm sóc phụng dưỡng cụ CH và trông coi quản lý nhà đất này. Việc này các đương sự cũng thừa nhận và đã tự nguyện chia cho bà Ch một phần giá trị tương đương với số tiền 636.000.000 đồng là đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bà Ch. Như vậy bà Ch được hưởng là 2.135.000.000 đồng tương đương 7,76% giá trị phần diện tích nhà, đất Khu I). Do bà Ch không đơn yêu cầu độc lập và cũng không nộp bất cứ tài liệu chứng cứ nào chứng minh đã bỏ ra số tiền 800.000.000 đồng để xây nhà về việc này Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét giải quyết trong cùng vụ án. Nếu bà Ch có tranh chấp với ông L thì bà Ch có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.
.Về yêu cầu độc lập của Ngân hàng S:
Xét thấy, tại phiên tòa giữa các bên đương sự đã thống nhất thỏa thuận
Ngân hàng đồng ý để ông L bà Tuyến tiếp tục trả số nợ gốc 1.847.968.000 đồng và lãi phát sinh nêu trên theo Thỏa thuận cho vay trung dài hạn số 19310032/TD-SCB-CNCQ đã ký ngày 13/5/2019 giữa ông Dương Văn L cùng vợ là bà Nguyễn Thị Kim T và Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Cống Quỳnh đã ký tại Văn phòng Công chứng N. Xét thấy thỏa thuận này là tự nguyện không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Ghi nhận sự tự nguyện của các bên đương sự đồng ý để Công ty Cổ
phần Dịch vụ Thương mại Tổng hợp Vincommerce tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê mặt bằng MBT.03.1937 ngày 25/3/2019 cho đến khi hết thời hạn theo hợp đồng ông L được trực tiếp nhận số tiền thuê nhà hàng tháng (38.000.000 đồng/tháng) từ Công ty Cổ phần Dịch vụ Thương mại Tổng hợp Vincommerce, số tiền này ông L được sử dụng 30 triệu đồng để trả nợ Ngân hàng, số tiền thuê nhà 8.000.000 đồng còn lại hàng tháng ông L sẽ giao cho ông Ph được hưởng.
Sau khi hết hạn hợp đồng thuê mặt bằng MBT.03.1937 ký ngày 25/3/2019
giữa ông L với Công ty Cổ phần Dịch vụ Thương mại Tổng hợp Vincommerce và ngay sau khi ông L bà Tuyến trả hết số tiền nợ còn lại cho ngân hàng, thì phía Ngân hàng phải trả lại toàn bộ bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 4620 do Ủy ban nhân dân Quận H cấp ngày 04/7/2003 và các giấy tờ kèm theo Giấy chứng nhận này cho ông L. Căn cứ vào quyết định trong bản án này, các bên ông L, ông Ph, bà Nh, ông Đ, bà Ph, bà B, bà Th, bà Ch được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký cập nhật biến động sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà theo quy định của pháp luật. Các đồng thừa kế được nhận hưởng phần giá trị nhà đất tại (khu I) nêu trên được quyền phát mại phần nhà đất này để chia thừa kế theo giá trị mà các bên được hưởng nêu trên theo trị giá tại thời điểm phát mại.
Xét thấy các sự thỏa thuận này của các bên là tự nguyện và phù hợp
với điều kiện hoàn cảnh thực tế của các bên nên ghi nhận.
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất sở hữu nhà. Như đã nêu ở trên ông L đã thừa nhận hành vi tự ý xin cấp giấy chứng nêu trên mang tên ông L là không đúng do đó yêu cầu hủy giấy chứng nhận của nguyên đơn là có căn cứ. Nhưng Hội đồng xét xử xét thấy
hiện tại các bên đều đã thống nhất nhà và đất nêu trên là di sản của cụ CH để lại
và đều đồng ý chia theo pháp luật do đó không cần thiết phải hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nêu trên mà chỉ cần điều chỉnh biến động trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với phần nhà đất mà những người được
hưởng thừa kế sau khi Tòa chia thừa kế cho ai là người trực tiếp được quyền sở
hữu sử dụng nhà đất trên sau khi họ đã chi trả chênh lệch chia thừa kế cho các
đồng thừa kế còn lại.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm sơ thẩm:
Ông Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng đối với phần yêu
cầu khởi kiện không được chấp nhận.
Ông Phạm Văn Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 120.000.000 đồng.
Nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí 56.500.000 đồng mà ông Ph đã nộp theo
biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0025697 do Cục thi hành
án dân sự Thành phố H lập ngày 15/5/2019.
Như vậy ông Ph còn phải nộp tổng số tiền án phí dân sự sơ thẩm là
63.800.000 đồng.
Ông Dương Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 128.534.000 đồng
Ông Phạm Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 92.000.000 đồng
Bà Dương Thị Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 74.720.000 đồng
Bà Dương Thị Ph, bà Dương Thị Th, bà Dương Thị B mỗi người phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm là 57.000.000 đồng.
Riêng bà Nh là người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao
tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
7. Về các chi phí tố tụng:
Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án ông Ph đã nộp tạm ứng các
khoản chi phí đo vẽ, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí thẩm định giá là
57.877.000 đồng.
Tại phiên tòa ông Đ tự nguyện chịu trả lại chịu và trả lại cho ông Phạm
Văn Ph các khoản chi phí tố tụng nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy việc ông Đ
trả khoản tiền này là tự nguyện nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 34, 37, 74, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 623, 650, 651, 652, 660 và 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 2, điểm e khoản 1 Điều 3 Luật Người cao tuổi;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Phạm Văn Ph về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hồ sơ gốc số 4602, do Ủy ban nhân dân Quận H cấp ngày 04/7/2003 cho ông Dương Văn L.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn
Ph về yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật.
2.1 Xác định nhà đất tọa lạc tại số 83/2 (số mới 563) K, khu phố 5,
phường H, Quận H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hồ sơ gốc số 4602, do Ủy ban nhân dân Quận H cấp ngày 04/7/2003 là di sản của cụ Phạm Thị CH (chết năm 2007).
2.2. Xác định những người thừa kế theo pháp luật của cụ Phạm Thị CH gồm:
Bà Phạm Thị Nh
Ông Phạm Văn Ph
Bà Phạm Thị L (Chết năm 1986) có những người thừa kế thế vị của bà L
gồm: Bà Dương Thị Ch, ông Dương Văn L, bà Dương Thị Th, bà Dương Thị Ph, bà Dương Thị B.
Ông Phạm Văn T (chết trước bà Ch) có người thừa kế thế vị của ông T là
ông Phạm Văn Đ.
3. Phân chia di sản thừa kế:
Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự cụ thể như sau:
3.1. Ông Dương Văn L được quyền sở hữu một phần nhà đất tọa lạc tại số
số 83/2 (số mới 563) K, khu phố 5, phường H, Quận H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hồ sơ gốc số 4602 do Ủy ban nhân dân Quận H cấp ngày 04/7/2003 tại các vị trí số 1,4,5,6,7 và một phần vị trí số 10 theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 01/02/2021 (viết tắt là khu II). Trị giá là 20.234.000.000 đồng
3.2. Ông Ph cùng những đồng thừa kế khác là bà Phạm Thị Nh, ông Phạm
Văn Đ, bà Dương Thị Th, bà Dương Thị B, bà Dương Thị Ph cùng thống nhất được hưởng thừa kế giá trị quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng một phần nhà đất tọa lạc tại số số 83/2 (số mới 563) đường K, khu phố 5, phường H, Quận H, Thành phố H có diện tích 227,8m2 tại vị trí số 8, 9, 11 và một phần tại vị trí số 10 theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 01/02/2021 (viết tắt là khu I) có giá trị là 27.518.000.000 đồng.
Bà Nh, ông Đ, bà Th, bà B, bà Ph tự nguyện chia cho ông Ph được hưởng
thừa phần giá trị quyền sử dụng đất là 12.000.000.000 đồng (tương đương 43,61% của khu I) và tự nguyện cho lại cho ông L ông L bà Tuyến 1.882.000.000 đồng (tương đương với số tiền mà ông L bà Tuyến còn nợ cho Ngân hàng) ngay sau khi phần nhà đất tại khu I được phát mại để chia cho các đồng thừa kế.
Bà Nh tự nguyện nhận hưởng thừa kế phần giá trị nhà đất là
4.000.0000.000 đồng (tương đương 14,54% khu I).
Ông Đ tự nguyện nhận hưởng thừa kế phần giá trị nhà đất là
3.000.0000.000 đồng(tương đương 10,9% khu I).
Bà Th, bà B, bà Ph mỗi người được nhận hưởng thừa kế phần giá trị nhà
đất là 1,5 tỷ đồng (tương đương 5,45% khu I).
Bà Ch được nhận hưởng thừa kế phần giá trị nhà đất là 1,5 tỷ đồng và
636.000.000 đồng tiền công sức chăm sóc phụng dưỡng cụ CH và trông coi
quản lý nhà đất. Tổng cộng là 2.136.000.000 đồng (tương đương 7,76% khu I).
Bà Ch được quyền khởi kiện ông L đối với số tiền 800.000.000 đồng mà
bà Ch cho rằng đã bỏ ra cùng ông L xây dựng nhà bằng một vụ kiện dân sự khác
nếu đầy đủ chứng cứ và vẫn còn thời hiệu khởi kiện.
4. Về yêu cầu độc lập của Ngân hàng S.
Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng S đồng ý để ông L bà Tuyến tiếp
tục trả số nợ gốc 1.847.968.000 đồng và lãi phát sinh nêu trên theo Thỏa thuận
cho vay trung dài hạn số 19310032/TD-SCB-CNCQ đã ký ngày 13/5/2019 giữa
ông Dương Văn L cùng vợ là bà Nguyễn Thị Kim T và Ngân hàng TMCP S -
Chi nhánh Cống Quỳnh đã ký tại Văn phòng Công chứng N.
5. Ghi nhận sự tự nguyện của các bên đương sự đồng ý để Công ty Cổ
phần Dịch vụ Thương mại Tổng hợp Vincommerce tiếp tục thực hiện hợp
đồng thuê mặt bằng MBT.03.1937 ngày 25/3/2019 cho đến khi hết thời hạn
theo hợp đồng, ông L được trực tiếp nhận số tiền thuê nhà hàng tháng
(38.000.000 đồng/tháng) từ Công ty Cổ phần Dịch vụ Thương mại Tổng hợp
Vincommerce, số tiền này ông L được sử dụng 30 triệu đồng để trả nợ Ngân
hàng, số tiền thuê nhà 8.000.000 đồng còn lại hàng tháng ông L sẽ giao cho
ông Ph được hưởng.
6. Các đương sự đều thống nhất thỏa thuận:
Sau khi hết hạn hợp đồng thuê mặt bằng MBT.03.1937 ký ngày 25/3/2019
giữa ông L với Công ty Cổ phần Dịch vụ Thương mại Tổng hợp
Vincommerce và ngay sau khi ông L bà Tuyến trả hết số tiền nợ còn lại cho
ngân hàng, thì phía Ngân hàng phải trả lại toàn bộ bản chính Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 4620 do Ủy ban nhân
dân Quận H cấp ngày 04/7/2003 và các giấy tờ kèm theo Giấy chứng nhận này
cho ông L. Căn cứ vào quyết định trong bản án này, các bên ông L, ông Ph, bà
Nh, ông Đ, bà Ph, bà B, bà Th, bà Ch được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền để đăng ký cập nhật biến động sang tên giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà theo quy định của pháp luật. Các đồng thừa kế
được nhận hưởng phần giá trị nhà đất tại (khu I) nêu trên được quyền phát
mại phần nhà đất này để chia thừa kế theo giá trị mà các bên được hưởng nêu
trên theo trị giá tại thời điểm phát mại.
Các đương sự thống nhất sẽ căn cứ vào các vị trí tương ứng trên Bản đồ
hiện trạng vị trí - áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 01/02/2021 và diện tích được công nhận trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 4620 do Ủy ban nhân dân Quận H cấp ngày 04/7/2003 để tách thửa và cập nhật biến động cho phù hợp với phần nhà đất mà mỗi bên được chia thừa kế.
7. Về án phí dân sự sơ thẩm sơ thẩm:
Ông Phạm Văn Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 120.300.000 đồng.
Nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí 56.500.000 đồng mà ông Ph đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0025697 do Cục Thi hành án dân sự Thành phố H lập ngày 15/5/2019. Như vậy ông Ph còn phải nộp 63.800.000 đồng.
Ông Dương Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 128.534.000 đồng
Ông Phạm Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 92.000.000 đồng
Bà Dương Thị Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 74.720.000 đồng
Bà Dương Thị Ph, bà Dương Thị Th, bà Dương Thị B mỗi người phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm là 57.000.000 đồng.
Riêng bà Nh là người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao
tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
8. Về các chi phí tố tụng: Ghi nhận việc ông Phạm Văn Đ tự nguyện chịu
và trả lại cho ông Phạm Văn Ph 57.877.000 đồng tiền chi phí đo vẽ, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí thẩm định giá.
9. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn trên tính từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Cấp cao tại TP. H; - VKSND TP. HCM; - TAND Cấp cao tại TP. H; - Cục THADS TP.H; - Đương sự; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thủy |