- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "lÊ tRUNG k-Hoàng Thị T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Trung K được ly hôn với bà Hoàng Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 941/2019/HNGĐ-ST Ngày: 26/9/2019 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Út
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Trung Kiên
2. Ông Nguyễn Bảo Lâm
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân
Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa: Ông
Huỳnh Thanh Thành – Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 9 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Tân Bình,
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 378/2019/TLST-HN ngày 16 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2019/QĐST-HN ngày 04 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Trung K, sinh năm 1980
Địa chỉ: 72/83/31 Đường S, phường E, quận R, Tp.M
Bị đơn : Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1988
Địa chỉ: 72/83/31 Đường S, phường E, quận R, Tp.M
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ông Lê Trung K trình bày: Ông K và bà T kết tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 38, quyển số 01 ngày 12/6/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Â, tỉnh Y.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2015 đầu năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau và đánh nhau. Nguyên nhân là do bất động quan điểm sống, cách chăm sóc nuôi dạy con cái, sinh hoạt gia đình. Bà T không chung thủy trong quan hệ vợ chồng, có tình cảm với người đàn ông khác nên mâu thuẫn ngày càng thêm trầm trọng, vợ chồng không có sự tin tưởng, tôn trọng, chia sẻ dành cho nhau. Ông K xác định tình cảm dành cho bà T không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T.
Về con chung : Ông K yêu cầu xác định trẻ Lê Hoàng Khánh H, sinh ngày 30/3/2014 không phải là con ruột của ông K mà là con riêng của bà T. Ông K xác định giữa ông K và bà T chỉ có 01 con chung tên Lê Hoàng Khánh N, sinh ngày 02/12/2009. Ly hôn, ông K yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Khánh N, việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung : Ông rút lại yêu cầu chia tài sản chung, yêu cầu hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung : Không có Bà Hoàng Thị T trình bày : Bà xác định giữa vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn. Tuy nhiên, bà muốn hàn gắn tình cảm đoàn tụ gia đình để vợ chồng cùng nhau chăm sóc con cái nhưng ông K vẫn cương quyết ly hôn thì bà cũng đồng ý. Về con chung : Bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là trẻ Lê Hoàng Khánh Ngọc, sinh ngày 02/12/2009, việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với trẻ Lê Hoàng Khánh H, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về tài sản chung : Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung : Không có Tại phiên tòa hôm nay: Ông Lê Trung K vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu tòa án giải quyết cho ông ly hôn với bà Hoàng Thị T. Về con chung: Ông K đồng ý để Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Lê Hoàng Khánh N. Yêu cầu Tòa án xác định trẻ Lê Hoàng Khánh H không phải là con ruột của ông K. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có Bà Hoàng Thị T vắng mặt tại phiên tòa. Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:
- Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Pháp luật về tố tụng:
Ông Lê Trung K yêu cầu ly hôn với bà Hoàng Thị T, bà T có nơi cư trú tại quận R nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo qui định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 38, quyển số 01 ngày 12/6/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Â, tỉnh Y cấp thì quan hệ hôn nhân giữa ông Lê Trung K và bà Hoàng Thị T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được pháp luật bảo vệ.
Bị đơn, bà Hoàng Thị T đã được Tòa án triệp tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Pháp luật về nội dung:
Xét yêu cầu của ông Lê Trung K, qua diễn biến tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Hôn nhân gia đình được xây dựng dựa trên tình yêu thương, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống, sự tôn trọng, tin tưởng của vợ chồng dành cho nhau. Tuy nhiên, ông K và bà T đều thừa nhận vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng, không tin tưởng và tôn trọng nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, mục đích hôn nhân không đạt, khả năng hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình là không có nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.
Về con chung: Ông K xác định giữa ông K và bà T chỉ có một con chung là trẻ Lê Hoàng Khánh N, sinh ngày 02/12/2009 và ông K đồng ý giao con chung cho bà Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Xét yêu cầu của ông K về việc xác định trẻ Lê Hoàng Khánh H, sinh ngày 30/3/2014 không phải là con ruột của ông K. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Căn cứ vào Bảng kết quả xét nghiệm huyết thống do Công ty TNHH di truyền số IDNA phát hành ngày 18/02/2019 kết luận ông K không phải là cha ruột của trẻ Lê Hoàng Khánh H. Trong quá trình giải quyết vụ án bà T không yêu cầu Tòa án giám định AND lại và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định. Như vậy, có căn cứ xác định trẻ Lê Hoàng Khánh H không phải là con ruột của ông Lê Trung K.
Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có
(4) Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm ông K phải chịu là 300.000
đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 56, 59, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Trung K
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Trung K được ly hôn với bà Hoàng Thị T.
- Về con chung: Giao con chung tên Lê Hoàng Khánh N, sinh ngày 02/12/2009 cho bà Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định pháp luật Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Xác định trẻ Lê Hoàng Khánh H, sinh ngày 30/3/2014 không phải là con ruột của ông Lê Trung K. Các bên được quyền liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền điều chỉnh hộ tịch đối với trẻ Lê Hoàng Khánh H theo quy định pháp luật. 2. Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của ông Lê Trung K. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có. 3. Về án phí: Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Lê Trung K phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng do ông K đã nộp theo biên lai số 0038233 ngày 11/4/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình
Hoàn lại cho ông Lê Trung K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 26.250.000 đồng
theo biên lai thu số số 0038232 ngày 11/4/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình.
3. Quyền kháng cáo:
Ông Lê Trung K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Hoàng Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân TP.HCM;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Q.Tân Bình;
- Chi cục THADS Q.Tân Bình;
- Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Â, tỉnh Y;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ.
Trần Thị Hồng Út
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bảo Lâm – Vũ Trung K
Trần Thị Hồng Út
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Liên – Vũ Trung K
Trần Thị Hồng Út
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - VKSND Q.Tân Bình; - Chi cục THADS Q.Tân Bình; - Ủy ban nhân dân quận Tân Bình; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng Út |