- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phùng Thị R tranh chấp hợp đồng vay với Lương Văn G"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phùng Thị R về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông Lương Văn G và bà Nguyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án: 94/2021/DS-ST Ngày: 14/7/2022 V/v “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA – TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Thức.
Hội thẩm nhân dân:
1. Bà: Lê Thị Xuân Đào
2. Bà: Võ Thị Kiều Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: ông Lê Văn Đính - Kiểm sát viên.
Ngày 14/7/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 378/2022/TLST-DS, ngày 20 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2022/QĐST-DS ngày 04/07/2022, giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Phùng Thị R, sinh năm 1961;
Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh L
2. Bị đơn:
2.1 Ông Lương Văn G, sinh năm 1965;
2.2 Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962;
Ông G ủy quyền cho bà N. Theo văn bản ủy quyền ngày 04/7/2022.
Cùng địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh L.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/6/2022 và quá trình giải quyết vụ án, bà Phùng Thị R trình bày trình bày:
Do có quan hệ quen biết với vợ chồng ông G, bà N nên bà có cho ông G và bà N vay số tiền 170.000.000 đồng theo giấy mượn tiền ngày 01/6/2022 không tính lãi, hẹn 15 ngày sau sẽ thanh toán số tiền trên nhưng đến nay ông G, bà N vẫn chưa trả. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông G bà N liên đới trả cho bà số tiền 170.000.000 đồng. Đề nghị thanh toán một lần ngay sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà và ông G là quan hệ vợ chồng, bà xác nhận trong ngày 01/6/2022, vợ chồng bà có ký xác nhận vay của bà R số tiền 170.000.000 đồng, hẹn 15 ngày sau sẽ trả nhưng đến nay chưa thanh toán. Bà cho rằng thời điểm vợ chồng bà bắt đầu vay tiền của bà R là từ tháng 12 năm 2020, vay nhiều lần, việc vay mượn hai bên có thỏa thuận lãi suất với mức lãi suất là 10%/tháng, vợ chồng bà có thnah toán lãi cho bà R, chỉ ngưng không thanh toán 02 tháng tiền lãi trước thời điểm bà R nộp đơn khởi kiện, việc trả tiền lãi hai bên không lập thành văn bản. Nay bà R khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà liên đới trả cho bà R số tiền 170.000.000 đồng, bà đồng thời là đại diện theo ủy quyền của ông G đồng ý trả nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn, tuổi cao nên xin được trả dần mổi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi thanh toán hết số nợ.
Tòa án có tiến hành hòa giải nhưng các bên không thống nhất ý kiến.
Tại phiên tòa, nguyên đơn không thừa nhận việc vay mượn có thỏa thuận lãi suất, không thừa nhận có nhận tiền trả lãi như lời trình bày của ông G, bà N, không đồng ý với phương án trả nợ của bị đơn và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ theo pháp luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu ông G và bà N phải liên đới trả số tiền vay tổng cộng là 170.000.000 đồng theo chứng cứ là giấy mượn tiền ghi ngày 01/6/2022 mà nguyên đơn cung cấp. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn cũng thừa nhận và đồng ý trả số nợ nêu trên nhưng do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên xin trả dần nhưng không được phía nguyên đơn đồng ý. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải thanh toán một lần số sợ 170.000.000.000 đồng cho nguyên đơn là phù hợp với Điều 466 Bộ luật dân sự 2015. Nguyên đơn không có yêu cầu gì khác nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng,
Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Về quan hệ tranh chấp: Bà Phùng Thị R tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông Lương Văn G, bà Nguyễn Thị N. Quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Ông G, bà N hiện đang cư trú tại xã , huyện Đ, tỉnh L theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, thời hiệu khởi kiện còn trong hạn luật định.
Về pháp luật áp dụng: Bộ luật dân sự 2015
Về nội dung:
Qua tài liệu, chứng cứ đương sự giao nộp, lời trình bày của đương sự.
Thấy rằng, giữa bà R và vợ chồng ông G, bà N là chỗ quen biết nhau và có phát sinh giao dịch dân sự là hợp đồng vay tài sản, thể hiện qua chứng cứ mà nguyên đơn giao nộp giấy tay có nội dung: giấy vay tiền ghi ngày 01/6/2022, số tiền mà bị đơn còn nợ là 170.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn cũng thừa nhận số nợ trên. Đây là các tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Theo giấy nhận nợ hai bên có thỏa thuận hẹn 15 ngày sau kể từ ngày vay (ngày 01.6.2022) thì bên vay sẽ hoàn trả lại số nợ gốc nhưng đến nay ông G và bà N không thanh toán nợ là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ông G, bà N xin trả dần mỗi tháng là 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ nhưng nguyên đơn không đồng ý.
Do vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông G và bà N phải liên đới thanh toán một lần số nợ gốc 170.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị N cho rằng việc vay mượn tiền giữa hai bên là có thỏa thuận lãi suất với mức lãi suất 10%/tháng trên số tiền của mỗi lần vay. Hàng tháng vợ chồng bà đều có trả tiền lãi, chỉ ngừng trả lãi 02 tháng trước thời điểm bà R nộp đơn khởi kiện nhưng không được thừa nhận, bị đơn không xuất trình tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho việc này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nguyên đơn không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về quan điểm của Kiểm sát viên: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/QH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 và khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015; Khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phùng Thị R về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông Lương Văn G và bà Nguyễn Thị N.
Buộc ông Lương Văn G, bà Nguyễn Thị N phải liên đới thanh toán cho bà Phùng Thị R số nợ gốc 170.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bên phải thi hành án không trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
2. Về án phí:
Buộc ông Lương Văn G và bà Nguyễn Thị N phải liên đới nộp 8.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
Bà Phùng Thị R thuộc đối tượng người cao tuổi nên không phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, án văn. Văn Công Thức | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Văn Công Thức |