vanban.org

Bản án 94/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Huy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Huy H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 06-01-2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Huy H - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Huy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2026/HS-ST
Ngày: 19-5-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Hào.

2. Bà Trần Thu Phương.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2026/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2026 theo định đưa vụ án ra xét xử số 81/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Huy H, sinh ngày: 01-01-1984 tại tỉnh Ninh Bình; số căn cước công dân: 036084021683; nơi thường trú: Số A đường C, phường N, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Huy H1 và bà Trần Thị G (đã chết); vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10-11-2003, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; ngày 30-8-2007, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 14-4-2009, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 8 năm tù về tội “Cướp tài sản”; ngày 06-4-2018, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 5 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ từ ngày 06-01-2026, đến ngày 15-01-2026 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Ông Trần Duyên C và ông Nguyễn Thanh T (không triệu tập đến phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06-01-2026, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố L, phường N, tỉnh Ninh Bình phát hiện Trần Huy H đang đứng trước của nhà, có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. H tự nguyện vào nhà lấy ra giao nộp 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa các cục chất bột màu trắng và 01 lọ nhựa màu tím cao 7,5 cm, đường kính khoảng 4 cm, bên trong có chứa chất rắn tinh thể màu trắng (H khai là ma túy mua để sử dụng). Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng (ký hiệu H, H1), lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; thu mẫu nước tiểu của Trần Huy H (niêm phong ký hiệu M1). Tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy màu đen, đã cũ.

Tại cơ quan điều tra, Trần Huy H khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 02-01-2026, H đến khu vực chân cầu Đ, phường N, tỉnh Ninh Bình, mua 2 gói ma túy của một người đàn ông tên T1 (H không biết tên tuổi cụ thể, địa chỉ) với giá 600.000 đồng rồi mang về nhà cất giấu ở giường ngủ. Ngày 04-01-2026, Trần Huy H lấy một ít ma túy để sử dụng tại nhà của mình. Khoảng 16 giờ 30 ngày 06-01-2026, H đang đứng trước cửa nhà mình thì bị kiểm tra, bắt giữ.

Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Huy H tổ dân phố L, phường N, tỉnh Ninh Bình không thu giữ gì.

Bản kết luận giám định số 507/KL-KTHS ngày 13-01-2026 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

- Mẫu chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu H gửi giám định có khối lượng: 0,199 gam là ma túy, loại Heroine (H).

- Mẫu chất rắng dạng tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định có khối lượng: 0,253 gam là ma túy, loại Methamphetamine.

Heroine (H) là chất ma túy có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất (STT: 9, Danh mục: IA).

Methamphetamine là chất ma túy thuộc Danh mục chất ma túy, STT: 247, Danh mục: IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Bản kết luận giám định số 508/KL-KTHS ngày 13-01-2026 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Có tìm thấy các chất gồm Morphine, Codeine trong 01 (một) mẫu nước tiểu ghi thu của Trần Huy H được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định.

Morphine, C1 là các sản phẩm chuyển hóa của các chất ma túy thuộc nhóm O (H, Thuốc phiện,…).

Bản Cáo trạng số 149/CT-VKS-KV7 ngày 17-4-2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình truy tố bị cáo Trần Huy H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Huy H đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản trạng đã nêu và không khai báo thêm tình tiết gì mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Huy H tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình giữ nguyên nội dung bản trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Huy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025): Xử phạt bị cáo Trần Huy H từ 04 (bốn) năm tù đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy và 01 lọ nhựa màu tím đã thu giữ.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Huy H nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Huy H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp

Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Huy H trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu, bản kết luận giám định số 507/KL-KTHS ngày 13-01-2026 của Phòng K Công an tỉnh N, bản kết luận giám định số 508/KL-KTHS ngày 13-01-2026 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06-01-2026, tại nhà Trần Huy H ở tổ dân phố L, phường N, tỉnh Ninh Bình, Trần Huy H có hành vi tàng trữ trái phép 0,199 gam Heroine và 0,253 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Trần Huy H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng ma túy bị cáo có hành vi tàng trữ để sử dụng 0,199 gam Heroine và 0,253 gam Methamphetamine, tổng khối lượng Heroine và M là 0,452 gam. Vì vậy bị cáo Trần Huy H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm: ...

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này. ...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

3.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Trần Huy H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

3.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Huy H không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng là đối tượng có nhân thân xấu.

Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Huy H là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự, bị cáo có nhân thân xấu, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo Trần Huy H không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Huy H là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 lọ nhựa màu tím bị cáo Trần Huy H sử dụng để cất giữ ma túy, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 04-01-2026 của Trần Huy H, Công an tỉnh N đã xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Đối tượng bán ma túy cho Trần Huy H, cơ quan điều tra không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy màu đen là của ông Trần Huy H1 (bố đẻ H), ông H1 cho H mượn để làm phương tiện liên lạc. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho ông H1 là đúng quy định pháp luật.

Về án phí:

Bị cáo Trần Huy H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Huy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Xử phạt bị cáo Trần Huy H 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 06-01-2026.

2. Xử lý vật chứng:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025);

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 24295899 được niêm phong dán kín, mặt trước có ghi: “Số 507/KL-KTHS. Mẫu vật hoàn trả H, H1” được niêm phong bởi 04 (bốn) hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh N, có chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia đóng gói, niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) lọ nhựa màu tím kích thước cao 7,5 cm đường kính khoảng 4 cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 726/133 ngày 08-5-2026 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Ninh Bình).

3. Án phí:

- Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Huy H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Bị cáo Trần Huy H có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trần Huy H có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ