- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hạng A C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hạng A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2026/HS-ST Ngày 21-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Lương Hữu và bà Hoàng Thị Mai Hương.
- Thư ký phiên toà: Ông Bàn Văn Sơn - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 – Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2025/TLST-HS ngày 26/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2026/QĐXXST-HS ngày 08/01/2026 đối với bị cáo:
Hạng A C, sinh ngày 01/01/1978 tại xã T, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản P, xã L, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam: tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Hạng A S1 và bà Mùa Thị S2; bị cáo có vợ là Giàng Thị D và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Bản án số 65/2020/HS-ST ngày 13/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Sơn La) xử phạt Hạng A C 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã được xóa án tích).
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2025 đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Hạng A C là ông Nguyễn Bá L – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 30 phút ngày 26/11/2025, tổ công tác Công an phường M, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực P, thuộc bản C, phường M, tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra đối với Hạng A C đang đi bộ trên đường. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải đang mặc có 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng chất bột màu trắng nghi là ma túy, loại Heroine. Hạng A C khai nhận gói nilon màu hồng bên trong đựng chất bột màu trắng là ma túy, loại Heroine của Hạng A C mua về để bản thân sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Hạng A C, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng có liên quan để điều tra xử lý.
Cùng ngày, Công an phường M, tỉnh Sơn La tiến hành Test thử ma túy đối với Hạng A C cho kết quả dương tính với chất ma túy, loại Morphine – Amphetamine – Methamphetamine.
Ngày 27/11/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành xác định khối lượng chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Hạng A C được 0,11 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu C.
Tại Kết luận giám định số 1430 ngày 28/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “- Mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy ; Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,11 gam; Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sữa đối, bố sung năm 2017 và 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Quá trình điều tra Hạng A C khai nhận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 26/11/2025, C một mình đi bộ từ nhà ở bản P, xã L, tỉnh Sơn La lên khu vực P thuộc bản C, phường M, tỉnh Sơn La mục đích tìm mua ma túy để bản thân sử dụng. Đến nơi, C gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 45 tuổi không quen biết, qua trao đổi C đã hỏi và mua được của người đàn ông đó 01 gói Heroine, bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá 50.000 đồng. C cất giấu gói ma túy vừa mua được vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà, trên đường về thì gặp tổ công tác của Công an phường M kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số 87/CT- VKS ngày 24 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La đã truy tố bị can Hạng A C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Hạng A C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 BLHS (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).
Xử phạt Hạng A C từ 03 năm đến 03 năm, 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì thư dán kín mặt trước ghi “vật chứng còn lại vụ Hạng A C, bắt ngày 26/11/2025: Mảnh nilon màu hồng”.
- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo Hạng A C trình bày: Bị cáo Hạng A C là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế. Sau khi phạm tội bị cáo Hạng A C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ thấp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo với mức án 03 năm tù để bị cáo sớm được trở về địa phương, cải tạo lỗi lầm, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và cho bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin được giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Hạng A C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác thu giữ có nguồn gốc của bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết với giá 50.000 đồng vào ngày 26/11/2025, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan điều tra.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Hạng A C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 26/11/2025 bị cáo Hạng A C đã có hành vi tàng trữ 0,11 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự) quy định mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy và đã từng bị kết án về tội phạm ma túy, đã được xóa án tích, tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà tiếp tục lún sâu vào con đường phạm tội.
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có tài sản gì có giá trị, do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì thư dán kín mặt trước ghi “vật chứng còn lại vụ Hạng A C, bắt ngày 26/11/2025: Mảnh nilon màu hồng”. Xét thấy, đây là vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hạng A C. Kết quả điều tra, xác minh xác định C không thuộc diện nào quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 nên không cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Ngày 11/12/2025, Công an phường M đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hạng A C về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Hạng A C như bị cáo khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
Về án phí: Bị cáo Hạng A C thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về thời hạn tạm giam: Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).
Tuyên bố: Bị cáo Hạng A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Hạng A C 03 (Ba) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 26/11/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư dán kín mặt trước ghi “vật chứng còn lại vụ Hạng A C, bắt ngày 26/11/2025: Mảnh nilon màu hồng”.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - Công an tỉnh Sơn La; - VKSND Khu vực 6 - Sơn La. - Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La. - Thi hành án hình sự; - Trại giam Công an tỉnh Sơn La. - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Hương |