vanban.org

Bản án 94/2026/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Ngô Thị H.

Buộc bà Nguyễn Thị L phải trả cho vợ chồng bà Ngô Thị H và ông Đoàn Ngọc H1 số tiền 76.298.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu hai trăm chín mươi tám nghìn đồng). Kể từ ngày Bản án này có hiệu lực và có đơn yêu cầu thi hành án của người có quyền thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Ngô Thị H - Nguyễn Thị L - Tranh chấp về hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Ngô Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2026/DS-ST
Ngày: 02 -7-2026.
V/v: Tranh chấp về hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Thanh Tân và bà Nguyễn Nhàn Khánh Phú.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Như Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Đông, Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 60/2026/TLST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp về hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2026/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị H, sinh năm 1985; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 22/02/2025; địa chỉ: Tổ dân phố G T, phường P, thành phố H; có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1994; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày: 09/8/2022; địa chỉ: Tổ dân phố H T, phường P, thành phố H; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Đoàn Ngọc H1, sinh năm 1983; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày: 05/12/2021; Địa chỉ: Tổ dân phố G T, phường P, thành phố H. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1992; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 04/10/2022; địa chỉ: Tổ dân phố H T, phường P, thành phố H; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/02/2026, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Ngô Thị H trình bày:

Bà Ngô Thị H và bà Nguyễn Thị L quen biết nhau thông qua mối quan hệ hụi, họ. Vào năm 2024, bà T có tham gia vào 06 dây hụi do bà L làm chủ hụi, cụ thể như sau:

1. Dây hụi 4.000.000 đồng/tháng, bắt đầu từ ngày 02/7/2024 bao gồm 11 phần, bà H đã tham gia đóng 5 kỳ với số tiền 14.736.000 đồng.

2. Dây hụi 5.000.000 đồng/tháng, bắt đầu từ ngày 24/8/2024 bao gồm 11 phần, bà H đã tham gia đóng 4 kỳ với số tiền 18.894.000 đồng.

3. Dây hụi 2.000.000 đồng/ngày, bắt đầu từ ngày 08/11/2024, bao gồm 27 phần, bà H đã tham gia đóng 18 ngày với số tiền 29.994.000 đồng.

4. Dây hụi 1.000.000 đồng/ngày, bắt đầu từ ngày 11/11/2024, bao gồm 35 phần, bà H đã tham gia đóng 15 ngày với số tiền 11.478.000 đồng.

5. Dây hụi 500.000 đồng/ngày, bắt đầu từ ngày 11/11/2024, bao gồm 35 phần, bà H đã tham gia đóng 15 ngày với số tiền 6.196.000 đồng.

6. Dây hụi 1.000.000 đồng/ngày, bắt đầu từ ngày 23/10/2024, bao gồm 36 phần, bà H đã nhận tiền vào kỳ thứ 24, số tiền còn lại bà H chưa đóng 5 kỳ là 5.000.000 đồng.

Vào ngày 24/11/2024, bà Nguyễn Thị L thông báo “vỡ hụi” thì giữa bà Ngô Thị H và bà Nguyễn Thị L có thống nhất số tiền bà L còn nợ bà H là 76.298.000 đồng, bà L có hứa hẹn sẽ trả cho bà H theo từng đợt từ 05-10% theo số tiền còn nợ và khoảng ngày 10/12 đến ngày 15/12/2024. Tuy nhiên, sau đó bà H nhiều lần đòi nhưng bà L không trả như đã hứa. Do đó, bà Ngô Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị L trả cho bà Ngô Thị H số tiền 76.298.000 đồng đồng, không yêu cầu trả lãi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn ông Đoàn Ngọc H1:

Ông Đoàn Ngọc H1 là chồng bà Ngô Thị H, số tiền bà H tham gia chơi hụi tại bà L là tài sản chung của vợ chồng ông H1 và bà H. Ông H1 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H và không có ý kiến gì thêm.

Bị đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà L thừa nhận bà L là chủ hụi và bà H là người tham gia các dây hụi như bà H trình bày. Đồng thời, bà L thừa nhận có nợ bà H số tiền 76.298.000 đồng xuất phát từ việc chơi hụi. Tuy nhiên, do hoàn cảnh khó khăn nên bà L không có khả năng trả nợ cho bà H, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Bà L có chồng là ông Võ Văn Đ, việc bà L nợ bà H số tiền trên là do bà L một mình làm ăn, ông Đ không biết và không liên quan đến việc bà L chơi hụi. Bà L chịu trách nhiệm trả nợ cho bà H.

Tại bản trình bày ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn Đ trình bày:

Ông Võ Văn Đ là chồng của bà Nguyễn Thị L, tuy nhiên việc bà L nợ tiền hụi của bà H thì ông Đ không biết và cũng không liên quan đến số tiền trên, đó là tiền làm ăn riêng của bà L. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự cơ bản thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Ngô Thị H, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ trả cho bà Ngô Thị H số tiền 76.298.000 đồng. Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí đề nghị buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp về hụi giữa nguyên đơn là bà Ngô Thị H với bị đơn là Nguyễn Thị L đều có nơi cư trú tại phường P, thành phố H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 4 - Huế theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Tại phiên tòa, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo đúng quy định.

Về nội dung khởi kiện, xét thấy:

Vào năm 2024 do quen biết nhau qua mối quan hệ hụi, họ bà Ngô Thị H đã tham gia vào 06 dây hụi do bà L làm chủ. Vào ngày 24/11/2024 bà Nguyễn Thị L thông báo vỡ hụi thì giữa bà Ngô Thị H và bà Nguyễn Thị L đã tính toán và thống nhất số tiền bà L còn nợ bà H là 76.298.000 đồng. Tại biên bản ghi lời khai bị đơn bà Nguyễn Thị L cũng thừa nhận còn nợ bà Ngô Thị H số tiền 76.298.000 đồng xuất phát từ việc nợ hụi và đồng ý trả cho bà H số tiền trên tuy nhiên hiện nay bà L đang gặp khó khăn và không còn khả năng trả nợ. Đây cũng là tình tiết các đương sự thừa nhận và không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Như vậy, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 76.298.000 đồng là có căn cứ, cần chấp nhận.

Bà H không yêu cầu tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn Đ, là chồng bà L: Thấy rằng số tiền mà bà L nợ bà H là tiền làm ăn riêng của bà L, ông Đ không biết và cũng không liên quan đến số tiền trên; bà H chỉ khởi kiện bà L nên Hội đồng xét xử không buộc ông Đ phải liên đới trả khoản nợ trên.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Ngô Thị H được chấp nhận nên bị đơn là bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho bà Ngô Thị H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92, Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 166, 274, 278, 280, 357, 468 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ các Điều 33 và 43 của Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Ngô Thị H.

Buộc bà Nguyễn Thị L phải trả cho vợ chồng bà Ngô Thị H và ông Đoàn Ngọc H1 số tiền 76.298.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu hai trăm chín mươi tám nghìn đồng).

Kể từ ngày Bản án này có hiệu lực và có đơn yêu cầu thi hành án của người có quyền thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị L chịu 3.814.900 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho bà Ngô Thị H số tiền tạm ứng án phí 1.907.450 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001198 ngày 14 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố H.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện và thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34, 36, 72 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ