vanban.org

Bản án 94/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S Vđối với bị đơn ông Đặng Quốc D.

Buộc ông Đặng Quốc D có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S Vtổng số tiền nợ tính đến ngày 03 tháng 8 năm 2026 là 90.595.055 (Chín mươi triệu năm trăm chín mươi lăm ngàn không trăm năm mươi lăm) đồng, gồm: nợ gốc 44.549.877 đồng, lãi trong hạn 22.738.478 đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty S Đặng Quốc D"
  • Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S Vđối với bị đơn ông Đặng Quốc D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2026/DS-ST
Ngày: 03 – 8 - 2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 –ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Thanh Tuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Kim Thắng,

Bà Vũ Thị Thanh Loan.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Đặng Thị Xuân Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 45/2026/TLST-DS ngày 16 tháng 3 năm 2026, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1013/2026/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1021/2026/QĐST-DS ngày 13/7/2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S V(gọi tắt là Công ty S). Địa chỉ: tầng 19, tháp B, khu thương mại dịch vụ kết hợp nhà ở cao tầng tại lô đất 1-13 thuộc khu chức năng số 01- số 15, đường T, phường A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện pháp luật: ông Chun Young I - Chức vụ: Tổng Giám đốc công ty.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Phùng Minh Đ - Chức vụ: Giám đốc Khối Thu hồi nợ (Theo Giấy ủy quyền số 048/2024/GUQ-TGĐ do Ông Chun Young Ill, Tổng Giám đốc - Người đại diện theo pháp luật ký ngày 04 tháng 10 năm 2024).

Ông Phùng Minh Đ ủy quyền cho Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên D. Người đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Văn Đ, chức vụ: Giám đốc Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên D (Theo văn bản ủy quyền số 03/26/UQ-KK-SVFC ngày 12/01/2026); địa chỉ: số 81, đường N, phường H, thành phố Đà Nẵng.

Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên D ủy quyền lại cho ông Nguyễn Thọ Viết N, sinh năm 1990, bà Phạm Thị Thu H sinh năm 1995, ông Hoàng Xuân H, sinh năm 2002; cùng địa chỉ: số 81, đường N, phường H, thành phố Đà Nẵng và bà Lê Trần Bảo Tr, sinh năm 2004, địa chỉ: số 325 đường H, phường T, thành phố Đà Nẵng (Theo văn bản ủy quyền số 62/UQ2026 ngày 22/01/2026 và Văn bản bổ sung người được ủy quyền ngày 20/3/2026).

- Bị đơn: ông Đặng Quốc D, sinh năm 1994. Địa chỉ: tổ 3, thôn K, xã C, thành phố Đà Nẵng.

Bà Lê Trần Bảo Trân có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Đặng Quốc D vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 06/5/2024, Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S V(sau đây gọi tắt là Công ty S) và ông Đặng Quốc D đã ký Hợp đồng cho vay số: 10170XXXX. Theo nội dung hợp đồng, Công ty S cho ông D vay số tiền 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng) với lãi suất thỏa thuận 40%/năm, mục đích vay: sửa nhà ở, loại hình vay: tín chấp (không yêu cầu tài sản đảm bảo). Công ty Tài chính S đã giải ngân đủ số tiền 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng) cho ông D qua số tài khoản 06201010932XX mở tại Ngân hàng MARITIME HCMC - chi nhánh Quảng Nam do bà Phan Thi T là chủ sở hữu.

Căn cứ thỏa thuận trong hợp đồng cho vay, ông D có nghĩa vụ thanh toán khoản vay bao gồm gốc và lãi trong vòng 36 kỳ vào ngày 10 hàng tháng, từ kỳ đầu tiên vào ngày 10/6/2024 đến kỳ thứ 35 trả mỗi kỳ 2.176.148 đồng, riêng kỳ cuối cùng trả 2.176.114 đồng vào ngày 10/5/2027.

Ông D đã thanh toán được 01 kỳ với tổng cộng số tiền 2.176.148 đồng, trong đó tiền gốc là 450.123 đồng, tiền lãi 1.726.025 đồng. Sau đó, ông D không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (03 tháng 8 năm 2026), ông Đặng Quốc D còn nợ Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S Vtổng số tiền 90.595.055 (Chín mươi triệu năm trăm chín mươi lăm ngàn không trăm năm mươi lăm) đồng, gồm: nợ gốc 44.549.877 đồng, lãi trong hạn 22.738.478 đồng, lãi quá hạn 23.306.701 đồng.

Do đó, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đặng Quốc D phải thanh toán toàn bộ số tiền tính đến ngày 03/8/2026 là 90.595.055 (Chín mươi triệu năm trăm chín mươi lăm ngàn không trăm năm mươi lăm) đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng cho vay số 10170XXXX kể từ ngày 14/7/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập và thông báo về việc tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải cũng như giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho ông Đặng Quốc D theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông D không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện, không giao nộp tài liệu, chứng cứ và cũng không tham gia các hoạt động tố tụng theo giấy triệu tập của Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật; bị đơn vắng mặt là không chấp hành quy định của pháp luật.

Về hướng giải quyết vụ án: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S Vkhởi kiện yêu cầu ông Đặng Quốc D thanh toán khoản vay (nợ gốc và lãi) theo “Hợp đồng cho vay” số 10170XXXX ký ngày 06/5/2024. Bị đơn cư trú tại tổ 3, thôn K, xã C, thành phố Đà Nẵng. Vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Về việc vắng mặt của các đương sự: đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung:

. Căn cứ theo Hợp đồng cho vay số 10170XXXX ngày 06/5/2024, Giấy cam kết nhận khoản vay và yêu cầu giải ngân, giấy chứng nhận bảo hiểm, lịch trả nợ, bản điều khoản cơ bản của hợp đồng cho vay giữa Công ty S và ông Đặng Quốc D, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: ngày 06 tháng 5 năm 2024, Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S Vvà ông Đặng Quốc D đã tự nguyện giao kết Hợp đồng cho vay số 10170XXXX, ông Đặng Quốc D có vay của Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S Vsố tiền 45.000.000 đồng, thời hạn trả nợ vay 36 tháng; mục đích vay chi phí sửa nhà ở; hình thức vay tín chấp; lãi suất 40%/năm, lãi suất chậm trả phát sinh trên dư nợ gốc quá hạn sẽ là 60%/năm.

Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S Vđã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giải ngân theo thỏa thuận, giải ngân bằng hình thức chuyển khoản số tiền 45.000.000 đồng cho ông D qua số tài khoản 06201010932XX mở tại Ngân hàng MARITIME HCMC chi nhánh Quảng Nam do bà Phan Thị Trlà chủ sở hữu theo thỏa thuận của các bên (theo hợp đồng mua bán ngày 05/8/2024, cam kết nhận khoản vay và yêu cầu giải ngân).

Đối chiếu hình thức, nội dung và quá trình thực hiện hợp đồng vay tài sản giữa hai bên với quy định tại các Điều 398, 401, 463, 465, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Hội đồng xét xử xét thấy: hợp đồng tín dụng giữa Công ty S với ông Đặng Quốc D đảm bảo các điều kiện của pháp luật về hình thức, nội dung và điều kiện có hiệu lực pháp luật của hợp đồng vay tài sản. Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S Vcho ông Đặng Quốc D vay tiền và thỏa thuận về lãi suất trong Hợp đồng cho vay số 10170XXXX ngày 06 tháng 5 năm 2024 là phù hợp với quy định của pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo nội dung đã cam kết.

Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Đặng Quốc D có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ tiền gốc và tiền lãi theo định kỳ vào ngày 10 hằng tháng. Sau khi nhận tiền vay, ông D đã thực hiện thanh toán trả nợ được 1 kỳ với tổng cộng số tiền số tiền 2.176.148 đồng, trong đó tiền gốc là 450.123 đồng, tiền lãi 1.726.025 đồng. Sau khi thanh toán được 01 kỳ, kể từ ngày 10/6/2024 đến nay, ông Đặng Quốc D không tiếp tục thanh toán bất kỳ khoản tiền nào.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh đã thực hiện đúng các nội dung thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận ý kiến của nguyên đơn, xác định ông Đặng Quốc D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay số 10170XXXX ngày 06/5/2024 tính đến ngày 03 tháng 8 năm 2026 là 90.595.055 (Chín mươi triệu năm trăm chín mươi lăm ngàn không trăm năm mươi lăm) đồng, gồm: nợ gốc 44.549.877 đồng, lãi trong hạn 22.738.478 đồng, lãi quá hạn 23.306.701 đồng là có cơ sở, đúng với quy định pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Do khoản nợ chưa được thanh toán dứt điểm nên kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Đặng Quốc D còn phải tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất và phương thức điều chỉnh lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 10170XXXX ngày 06 tháng 5 năm 2024 cho đến khi thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ.

. Về án phí sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; nguyên đơn được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

. Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Đà Nẵng tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); các Điều 280, 398, 401, 463, 465 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S Vđối với bị đơn ông Đặng Quốc D.

Buộc ông Đặng Quốc D có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S Vtổng số tiền nợ tính đến ngày 03 tháng 8 năm 2026 là 90.595.055 (Chín mươi triệu năm trăm chín mươi lăm ngàn không trăm năm mươi lăm) đồng, gồm: nợ gốc 44.549.877 đồng, lãi trong hạn 22.738.478 đồng, lãi quá hạn 23.306.701 đồng theo Hợp đồng cho vay số 10170XXXX ngày 06 tháng 5 năm 2024.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 03/8/2026) cho đến khi thi hành án xong, ông Đặng Quốc D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất và phương thức điều chỉnh lãi suất mà các bên thoả thuận trong Hợp đồng cho vay số 10170XXXX ngày 06 tháng 5 năm 2024.

[2]. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Đặng Quốc D phải chịu 4.529.000 (Bốn triệu năm trăm hai mươi chín ngàn) đồng.

Trả lại Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S Vsố tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.835.000 (Một triệu, tám trăm ba mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002221 ngày 11/3/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ