vanban.org

Bản án 94/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1/ Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Kim H Cho chị Võ Thị Kim H được ly hôn anh Nguyễn Nhật T. 2/ Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1/ Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16/12/2025
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông NGUYỄN TRUNG TÍNH

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông HUỲNH VĂN DŨNG

2. Ông NGUYỄN VĂN BỘ

- Thư ký phiên Tòa: Ông HỨA QUỐC THÁI – Thư ký tòa án nhân dân khu vực 5 – Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đồng Tháp: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 135/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp “xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 61/2025/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị VÕ THỊ KIM H, sinh năm 1992

Địa chỉ: Ấp TT3, xã TĐ, tỉnh ĐT.

* Bị đơn: Anh NGUYỄN NHẬT T, sinh năm 1995

Địa chỉ: Số 69C, tổ 4, ấp 1, xã CB, tỉnh ĐT.

(Chị H có mặt, anh T vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời trình bày tại phiên toà, phía nguyên đơn chị Võ Thị Kim H trình bày:

Chị và anh T xác lập quan hệ vợ chồng vào đầu năm 2019, có đăng ký kết hôn, sau khi cưới về sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị là do vợ chồng bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống, không hợp tính tình, không có tiếng nói chung, anh T tụ tập bạn bè ăn chơi, anh không lo làm ăn, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, vợ chồng hàn gắn đoàn tụ nhiều lần nhưng không thành nên đã ly thân nhau từ năm 2024 cho đến nay. Nay chị xin ly hôn anh T.

+ Về con chung : Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Võ Nhật K, sinh ngày 29/10/2020, khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con chung và chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Không có.

+ Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Nhật T đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh không cung cấp ý kiến đối với vụ kiện.

Tại phiên tòa chị H vẫn giữ ý kiến và yêu cầu như trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Anh Nguyễn Nhật T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vắng mặt không lý do, căn cứ điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh là phù hợp theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân : Chị H và anh T xác lập quan hệ vợ chồng vào đầu năm 2019, có đăng ký kết hôn, sau khi cưới về sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị là do vợ chồng bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống, không hợp tính tình, không có tiếng nói chung, anh T tụ tập bạn bè ăn chơi, anh không lo làm ăn, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, vợ chồng hàn gắn đoàn tụ nhiều lần nhưng không thành nên đã ly thân nhau từ năm 2024 cho đến nay. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm nên chị cương quyết xin ly hôn anh T. Còn anh T vắng mặt không lý do, mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần thông báo về việc chị H xin ly hôn, anh T cũng biết rõ sự việc nhưng anh không cung cấp ý kiến lời khai đối với vụ kiện, chứng tỏ anh không còn quan tâm đến mối quan hệ vợ chồng giữa anh và chị H, đồng thời xem như anh tự từ bỏ quyền bảo vệ quyền và ích lợi của mình. Nhận thấy tình cảm của anh chị đã thật sự tan vỡ, hai bên đã phát sinh mâu thuẫn kéo dài và ly thân nhau từ năm 2024 cho đến nay nhưng không hàn gắn đoàn tụ lại được. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị, cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp theo điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung: Anh chị có 01 con chung Nguyễn Võ Nhật K, sinh ngày 29/10/2020. Khi ly hôn, phía chị H yêu cầu tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy từ khi ly thân con chung do chị H nuôi dưỡng đã ổn định, con chung được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu phát triển tốt, do vậy hội đồng xét xử xét thấy để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý của con chung và ổn định cuộc sống của cháu nên tiếp tục giao con chung cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp theo điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung: Không có.

[5] Về nợ chung: Không có.

[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử: 1/ Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Kim H

Cho chị Võ Thị Kim H được ly hôn anh Nguyễn Nhật T. 2/ Về con chung:

- Tiếp tục giao con chung cháu Nguyễn Võ Nhật K, sinh ngày 29/10/2020 cho chị H nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Nhật T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Nhật T được quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở. 3/ Về án phí: Chị Võ Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0004155 ngày 10/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh ĐT nên xem như chị đã thi hành xong và không phải nộp tiếp.

Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ khi Tòa án tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh ĐT xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ