vanban.org

Bản án 94/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng Thắm được ly hôn với anh Nguyễn Anh Tuấn.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh Thư, sinh ngày 19/12/2012 cho chị Thắm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Tuấn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000đ cho đến khi cháu Thư đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T1 - T2"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng Thắm được ly hôn với anh Nguyễn Anh Tuấn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11 – 9 – 2025
“ V/v Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Mỡn

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Văn Lực

2/ Ông Lâm Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thành – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - tỉnh Vĩnh Long: không tham gia phiên tòa.

Ngày 11 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 199/2025/TLST – HNGĐ ngày 20/6/2025 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30/7/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng Thắm, sinh năm 1977.

Địa chỉ cư trú: ấp Phú Ân, xã Trung Nghĩa, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Anh Tuấn, sinh năm 1976.

Địa chỉ cư trú: ấp Xuân Minh 1, xã Trung Thành, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

- Về mối quan hệ hôn nhân: Chị Thắm và anh Tuấn hôn nhân hình thành trên cơ sở quen biết, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Trung Thành vào ngày 14/3/2005. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung tại xã Trung Thành. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, cả hai vợ chồng không tin tưởng nhau, anh Tuấn có tính gia trưởng, từ đó vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung gồm Nguyễn Minh Thùy, sinh ngày 08/01/2006 và Nguyễn Minh Thư, sinh ngày 19/12/2012. Sau khi ly hôn, tôi yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đối với cháu Thư và yêu cầu anh Tuấn cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000đ cho đến khi cháu Thư đủ 18 tuổi. Đối với cháu Thùy đã thành niên nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ phải thu, phải trả: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản hòa giải ngày 28/5/2025 bị đơn trình bày:

- Về mối quan hệ hôn nhân: Chị Thắm và anh Tuấn hôn nhân hình thành trên cơ sở quen biết, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Trung Thành vào ngày 14/3/2005. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung tại xã Trung Thành. Đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Anh Tuấn xét thấy mâu thuẫn vợ chồng không lớn, anh sẽ cố gắng thay đổi vì vợ con, anh yêu cầu được đoàn tụ.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung gồm Nguyễn Minh Thùy, sinh ngày 08/01/2006 và Nguyễn Minh Thư, sinh ngày 19/12/2012. Do anh Tuấn mong muốn vợ chồng đoàn tụ nên không yêu cầu giải quyết về con chung.

- Về tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ phải thu, phải trả: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

+ Chị Thắm trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

+ Đối với bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về trình tự, thủ tục tố tụng:

Bị đơn có địa chỉ cư trú tại xã Trung Thành nên Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Vĩnh Long thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Quá trình thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần. Căn cứ vào khoản 2, Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia phiên tòa.

Xét việc bị đơn anh Tuấn được triệu tập hợp lệ tham dự phiên hòa giải, thông báo về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ngày giờ xét xử đến lần thứ hai nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do. Xét thấy, có thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn; Hội đồng xét xử, quyết định xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét thấy:

Giữa chị Thắm và anh Tuấn có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa anh, chị có nhiều mâu thuẫn như: Vợ chồng thường hay cự cãi, bất đồng quan điểm trong cuộc sống; giữa vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Đồng thời, chị Thắm và anh Tuấn hiện tại đã ly thân với nhau từ đầu năm 2025 đến nay.

Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Thắm yêu cầu xin ly hôn với anh Tuấn là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Khoản 1 Điều 56 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc … hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”; khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 quy định “a) Không có tình cảm vợ chồng, ví dụ: Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng; c) Vợ chồng xúc phạm nhau, làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, tổn thất về tinh thần…”

Về con chung:

Xét việc chị Thắm yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đối với cháu Nguyễn Minh Thư, sinh ngày 19/12/2012. Hội đồng xét xử nhận thấy: Từ nhỏ cháu Thư sống chung với chị Thắm cuộc sống phát triển bình thường về tinh thần, thể chất; đồng thời tại bản khai ý kiến cháu Thư cũng có nguyện vọng sống chung với chị Thắm. Do đó cần thiết giao cháu Thư cho chị Thắm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp quy định của pháp luật.

Xét việc chị Thắm yêu cầu anh Tuấn cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000đ đến cháu Thư đủ 18 tuổi là phù hợp quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình và Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí sơ thẩm:

+ Chị Thắm phải nộp 300.000đ án phí ly hôn.

+ Anh Tuấn phải nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147, 227 và 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 9, 51, 55, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử;

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng Thắm được ly hôn với anh Nguyễn Anh Tuấn.

2. Về con chung:

Giao cháu Nguyễn Minh Thư, sinh ngày 19/12/2012 cho chị Thắm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Tuấn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000đ cho đến khi cháu Thư đủ 18 tuổi.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung phải thu, phải trả: Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

+ Chị Thắm phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về ly hôn. Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0010096 ngày 28/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4), nên chị Thắm không phải nộp thêm.

+ Anh Tuấn phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 – Vĩnh Long.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ