vanban.org

Bản án 94/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 17/09/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến L phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Không phạt bổ sung đối với bị cáo. Giao bị cáo cho gia đình và chính quyền xã C S, huyện M C, tỉnh Sơn La quản lý theo dõi trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án về Vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến L phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TAND HUYỆN V H
TỈNH SƠN LA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS-ST
Ngày 17 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tráng A Lứ và bà Trịnh Thị Kim Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V H, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnV H tham gia phiên tòa: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện V H, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tiến L. Sinh năm 1990, tại M C, Sơn La. Nơi cư trú: T k 7, xã C S, huyện M C, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 9/12; Đảng phái, đoàn thể: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Tiến S và bà Vũ Thị G (đã chết); Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, Tiền sự: không;

Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại Thào A L, và là người đại diện theo ủy quyền của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất: Bà Sồng Thị D, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Bản P K, xã L L, huyện V H, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Sồng Thị D: Ông Đàm Mạnh H là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người phiên dịch cho bà Sồng Thị D: Anh Thào A B, sinh năm 1994, địa chỉ: Bản P K, xã L L, huyện V H, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan (QLNVLQ), thuộc hàng thừa kế thứ nhất:

+ Anh Thào A D, sinh năm 1987, địa chỉ: Bản P K, xã L L, huyện V H, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

+ Anh Thào A B, sinh năm 1994, địa chỉ: Bản P K, xã L L, huyện V H, tỉnh Sơn La. Có mặt.

+ Anh Thào A Th, sinh năm 1999, địa chỉ: Bản P K, xã L L, huyện V H, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

+ Chị Thào Thị C, sinh năm 1991, địa chỉ: xã P C, huyện M C, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

+ Chị Thào Thị V, sinh năm 1996, địa chỉ: xã P C, huyện M C, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan (QLNVLQ): Ông Hoàng Xuân D, sinh năm 1957. Địa chỉ: bản C C, xã L L, huyện V H, tỉnh Sơn La. Vắng mặt có lý do.

- Người đại diện hợp pháp của những người thừa kế thế vị: Anh Tếnh A T, Sinh năm 1990. Địa chỉ: Bản Săn Cài, xã Lóng Luông, huyện V H, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Phạm Hùng Q, sinh năm 1997, địa chỉ: T k 4, xã C S, huyện M C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

+ Anh Phạm Hồng Đ, sinh năm 1982, địa chỉ: T k 3, xã C S, huyện M C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

+ Chị Cao Thị S, sinh năm 1985, địa chỉ: T k 4, xã C S, huyện M C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

+ Ông Phạm Văn L, sinh năm 1959, địa chỉ: T k 4, xã C S, huyện M C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 20/01/2024, Nguyễn Tiến L điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MISUBISHI, loại XPANDER Biển kiểm soát (BKS): 30G – 339.66 đi từ xã C S, huyện M C, tỉnh Sơn La đến thành phố Hà Nội, trên xe có Phạm Hùng Q, ngồi ghế trước bên phải, Phạm Văn L, ngồi hàng ghế thứ 2 bên phải, Cao Thị S, ngồi hàng ghế thứ 2 bên trái và Phạm Hồng Đ, ngồi hàng ghế cuối. Khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, L điều khiển xe ô tô đến Km153 Quốc lộ 6 thuộc địa phận bản C C, xã L L, huyện V H, tỉnh Sơn La là đoạn đường thẳng, xuống dốc, ngoài khu vực đông dân cư, tổ chức giao thông hai chiều không có dải phân cách cố định, giữa đường có vạch kẻ sơn ngắt quãng xen kẽ đinh phản quang, phần lề đường bên phải theo chiều đi Hà Nội có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên theo hướng đi xã P C, huyện M C, tỉnh Hòa Bình, tầm nhìn bị hạn chế về hướng đường không ưu tiên đi xã Pà Cò do sạp hàng hóa, ô che của bà Tạ Thị Nhung, sinh năm 1963, trú tại bản C C, xã L L, huyện V H, tỉnh Sơn La. Khi L đang điều khiển xe ô tô đi với tốc độ khoảng 70 km/h đi bên phải đường theo chiều đi thì phát hiện cách xe L khoảng 50m có xe mô tô nhãn hiệu HONDA RSX, BKS: 26P1 – 086.90 do ông Thào A L, điều khiển, chở vợ là Sồng Thị D, chuyển hướng từ đường nhánh dân sinh xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình (đường không ưu tiên) ra đường Quốc lộ 6. Sau khi phát hiện L đã bấm còi, đạp phanh xe ô tô để giảm tốc độ, đồng thời đánh lái sang bên trái đường theo chiều đi nhưng do xe ô tô đi tốc độ cao nên xe không dừng lại mà đi sang làn đường bên trái và đâm vào xe mô tô do Thào A L điều khiển, sau đó xe ô tô đâm vào bục tường xây bên trái đường của nhà ông Hoàng Xuân D rồi dừng lại. Xe mô tô bị đổ nằm trên phần mặt lề đường và rãnh thoát nước bên phải theo chiều đi Hà Nội. Hậu quả: Ông Thào A L và bà Sồng Thị D ngã xuống mặt đường nhựa và lề đường trái dẫn đến bị thương và được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Thảo Nguyên, sau đó ông Thào A L tử vong tại bệnh viện; Bà Sồng Thị D bị thương, được chuyển tuyến đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, thành phố Hà Nội để tiếp tục cấp cứu và điều trị đến ngày 26/01/2024 thì chuyển về Bệnh viện đa khoa Thảo Nguyên, huyện M C, tỉnh Sơn La tiếp tục điều trị, đến ngày 16/02/2024 thì được ra viện; xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng.

Ngày 20/01/2024, Công an huyện V H, tỉnh Sơn La đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn và xét nghiệm ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Tiến L xác định nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Tiến L là 0,000 mg/lít khí thở; Nguyễn Tiến L âm tính với các chất ma túy.

Cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi, kết quả như sau:

- Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường được ghi nhận theo hướng Sơn La - Hà Nội. Đoạn đường nơi xảy ra vụ TNGT thuộc đoạn tuyến Km 153 QL6 thuộc địa phận bản C C, xã L L, huyện V H, tỉnh Sơn La, là đoạn đường ngoài khu vực đông dân cư, tổ chức giao thông hai chiều không có dải phân cách cố định; đầu đoạn đường vòng bên phải, xuống dốc; mặt đường trải nhựa áp phan rộng 6,25m, giữa đường có vạch sơn kẻ ngắt quãng, xen kẽ đinh phản quang phân chia 2 chiều đường, phần mặt đường bên trái rộng 3,25m. Lề đường bên phải rộng 1,60m có giao nhau với đường không ưu tiên theo hướng đi xã P C, huyện M C, tỉnh Hòa Bình, mặt giao rộng 21m, phần mặt đường rộng 5m. Tại phần phần hành Lg lề đường bên trái đường nhánh hướng đường L xã ra QL6, vị trí gần mặt giao có sạp hàng tạp hóa, ô che, cây xanh và biển quảng cáo của hộ kinh doanh ông bà Việt Anh; phần lề đường bên trái hướng QL6 có biển báo số W208, rãnh thoát nước bên phải rộng 1,3m, tiếp đến là hành Lg và khu dân sinh. Lề đường bên trái rộng 3,1m, tiếp đến là hành Lg và khu dân sinh, đầu đoạn đường hướng Sơn La – Hà Nội có biển báo hiệu số W207b (giao nhau với đường không ưu tiên bên phải). Đầu đoạn đường hướng Hà Nội – Sơn La có biển báo hiệu số W207c (giao nhau với đường không ưu tiên bên trái).

Ghi nhận 09 vị trí, dấu vết; Lấy cọc tiêu H1/153 ở lề đường bên phải làm mốc cố định; Các vị trí, dấu vết, phương tiện L quan được đo sang mép đường nhựa bên phải.

Vị trí số 01 là vết phanh đơn kéo dài, nằm ở khoảng giữa đường, chiều hướng Sơn La – Hà Nội, KT 17,4m x 0,15m. Vị trí đầu vết phanh cách mép đường 3,11m, vị trí cuối vết phanh cách mép đường 3,10m.

Vị trí số 02 là vùng hỗn hợp vật chất đất, mảnh sơn … văng hình nan quạt trên mặt đường của phần đường bên phải, trên diện dài 1,1m, chỗ rộng nhất 0,60m; Giao tuyến vùng hỗn hợp vật chất được xác định nằm trên phần mặt đường của phần đường bên trái, cách mép đường 2,9m.

Vị trí số 03 là vết cày ngắt quãng hình vòng cung, nằm trên mặt đường và phần lề đường bên phải, có chiều hướng Sơn La – Hà Nội, hướng từ trái sang phải, KT 38m x 0,02m. Vị trí đầu vết cày nằm trên phần đường bên trái, cách mép đường 2,85m; Vị trí vết cày kết thúc tại phần lề đường đất bên phải tại vị trí giá để chân trước bên trái xe mô tô BKS 26P1 – 086.90.

Vị trí số 04 là vết cày trượt hình vòng cung nằm trên phần mặt đường bên trái, chiều hướng Sơn La – Hà Nội, hướng từ trái sang phải KT 1,65m x 0,03m. Vị trí đầu vết cày cách mép đường 1,85m, vị trí cuối vết cày cách mép đường 1,90m.

Vị trí số 05 xe ô tô BKS 30G – 339.66: Sau khi xảy ra vụ TNGT phương tiện dừng đỗ trên phần mặt đường và lề đường bên trái, đầu xe quay chiều Hà Nội hướng về phần hành Lg bên trái đường. Trục bánh trước bên phải nằm trên lề đường, cách mép đường 1,20m; Trục bánh sau bên phải nằm trên mặt đường và cách méo đường 1,30m.

Vị trí số 06 xe mô tô BKS 26P1 – 086.90: Sau khi vụ TNGT xảy ra phương tiện bị đổ nghiêng sang trái, nằm trên phần mặt đường và rãnh thoát nước bên phải; Đầu xe quay chiều Sơn La hướng vào tim đường; Trục bánh trước xe nằm trên phần lề đường và cách mép đường 6,9m; Trục bánh sau xe cách mép đường 7,90m; Đồng hồ hộp số hiển thị 2/4; Hệ thống đèn tín hiệu của phương tiện không bật.

Vị trí số 07 là vết máu đã khô nằm trên phần mặt đường, không xác định được hình dạng, vết dài trên diện 0,70m, chỗ rộng nhất = 0,345m, vết máu có chiều Sơn La – Hà Nội, vị trí vết máu cách mép đường 3,40m.

Vị trí số 08 là vết máu đã khô nằm trên phần mặt đường, mép đường nhựa bên trái, không xác định được hình dạng, chiều hướng. KT 050m x x 0,34m; Vị trí xa nhất nằm trên phần mặt đường bên trái, cách mép đường 0,10m.

Vị trí số 09 là phần đoạn tường bằng gạch block ở phần lề đường và hành Lg bên trái đường, bị xô đẩy, bề mặt ngoài về hướng tim đường có nhiều vết trượt xước, bong tróc kết cấu cát, xi, bám Dnh chất sơn, KT 1,75m x 0,85m; Tại vị trí chân tường tập trung nhiều mảnh vỡ nhựa, hợp chất hỗn hợp mảng sơn, chi tiết nhựa, kim loại trên diện 1,60m x 0,90m.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện: Kết quả khám nghiệm phương tiện là xe ô tô nhãn hiệu MISUBISHI, BKS: 30G – 339.66 và xe mô tô nhãn hiệu HONDA RSX, BKS 26P1 – 086.90:

- Đối với xe ô tô biển kiểm soát 30G - 339.66: Cấu trúc kính chắn gió phía trước bên phải bị nứt vỡ, biến dạng theo chiều từ trước ra sau, từ ngoài vào trong, bề mặt ngoài có bám Dnh tổ chức dịch máu, cột trụ bên phải phía trước đầu xe bị biến dạng, cấu trúc tai xe phía trước, bên phải bị xô đẩy theo chiều từ trước về sau, từ ngoài vào trong và từ trái sang phải, vị trí đầu xe phía trước bị xô đẩy, ép sâu vào bên trong. Cấu trúc nắp ca pô phía trước, bên phải biến dạng từ trước ra sau, từ trái sang phải, bề mặt mép ngoài phía trước có bám Dnh chất màu đen. Bánh trước bên phải bị thủng, hết hơi, bên trái có vết trượt xước cao su, vết trượt theo hướng ngược chiều chuyển động của bánh xe. Hệ thống đèn phía trước bên phải xe bị vỡ, biến dạng, bật rời khỏi vị trí ban đầu. Cấu trúc cản trước, lưới tản nhiệt và mặt ca lăng bị vỡ, xô đẩy bật rời khỏi vị trí ban đầu. Thanh chắn đà trước có nhiều vết trượt xước, xô đẩy biến dạng ép sâu vào két làm mát. Cấu trúc đèn tín hiệu, đèn gầm phía trước bên phải bị nứt vỡ, bật ra khỏi vị trí ban đầu.

+ Tại Bản kết luận số 2630/KL-KTHS ngày 08/5/2024 kết luận: Tại thời điểm ngay trước khi xảy ra tai nạn, xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Xpander, đeo biển kiểm soát 30G - 339.66: Hệ thống phanh còn hãm, dừng được các bánh xe nhưng không xác định được hệ thống phanh có đảm bảo an toàn kỹ thuật hay không do xe ô tô bị hư hỏng nặng, không nổ được máy (hậu quả của vụ tai nạn) nên không kiểm tra được hiệu quả phanh; Hệ thống lái còn đánh lái được sang hai bên nhưng không xác định được hệ thống lái có đảm bảo an toàn kỹ thuật hay không do xe ô tô bị hư hỏng nặng, không nổ được máy (hậu quả của vụ tai nạn) nên không kiểm tra được trợ lực phanh.

- Đối với xe mô tô Biển kiểm soát 26P1 – 086.90: Tại thời điểm khám nghiệm ghi nhận công tắc và đèn tín hiệu không hoạt động, đồng hồ hộp số hiển thị số 2. Cấu trúc gương chiếu hậu bên phải bị xô đẩy, gáo gương, mặt gương bị nứt vỡ, bật rời khỏi vị trí ban đầu, mặt ngoài phái trước gương vết trượt xước, bám Dnh bột đá màu trắng. Đầu tay lái phía trước bên phải có vết trượt xước đến kim loại. Tay phanh bên phải phía trước bị trượt xước, bám Dnh chất bột đá và đất. Góc ngoài bên trái phía trước xe bị dập vỡ, biến dạng từ sau ra trước, từ phải qua trái. Cấu trúc mặt nạ phía bên ngoài bên trái đầu phương tiện bị nứt vỡ, trượt xước sơn, bám Dnh chất bột đá màu trắng. Hệ thống đèn tín hiệu phía trước bên trái bị dập vỡ, biến dạng theo chiều từ sau ra trước, từ trái qua phải. Ốp lót nhựa giảm sóc phía trước bên trái bị trượt xước sơn đến nhựa. Vị trí mặt ngoài ống giảm xóc phía trước bên trái có dấu vết trượt xước sơn đến kim loại. Cấu trúc cánh yếm bên trái bị dập vỡ, biến dạng, có vết trượt xước rạn. Phía trước cần số bám giắt chi tiết mảnh vỡ nhựa, không xác định được hình dạng. Ốp lót nhựa sườn phía sau, bên trái có nhiều vết trượt xước. Ví trí ốc bắt trục sau bên trái bị trượt xước sơn đến kim loại, có bám Dnh bột đá màu trắng. Tay đỡ giá để chân sau, bên trái có vết trượt xước sơn đến kim loại, có bám Dnh chất sơn đá màu trắng. Cấu trúc giá để chân phía trước bên phải bị xô đẩy theo chiều từ trước rấu, từ dưới lên trên, từ ngoài vào trong. Mặt ngoài bên dưới ốp ống xả phía sau bên phải có nhiều vết trượt xước.

- Kết quả khám nghiệm tử thi: Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 461 ngày 01/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Nguyên nhân chết của Thào A L do suy hô hấp, sốc mất máu cấp không hồi phục do chấn thương ngực, bụng kín gây gãy xương sườn, xẹp phổi, rách cơ hoành, vỡ gan; Nồng độ cồn trong máu theo phiếu tra kết quả xét nghiệm của Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La là 25mg/dl; Không có ma túy trong cơ thể tử thi Thào A L.

- Tại Bản kết luận giám định ngày 05/3/2024 kết luận: Kiểm tra thông tin kỹ thuật thực tế của xe, đối chiếu với hồ sơ cơ sở dữ liệu của Cục đăng kiểm Việt Nam, hiện tại phương tiện xe ô tô BKS: 30G-339.66 còn hạn kiểm định đến hết ngày 23/10/2025; Hệ thống phanh: Dẫn động phanh, các cơ cấu phanh bánh xe hư hỏng, không hoạt động. Hệ thống phanh hiện tại không hoạt động; Hệ thống lái: Vô lăng lái, trục lái, trụ lái còn đầy đủ. Cơ cấu lái, thanh đòn dẫn động lái hư hỏng, không còn nguyên vẹn; Hiện tại hệ thống lái hư hỏng không hoạt động; Hệ thống truyền lực; Hệ thống treo: Đúng hồ sơ kỹ thuật của phương tiện.

Kết quả trưng cầu giám định kỹ thuật số và điện tử đối với 02 tập tin hình ảnh và âm thanh (video) từ hệ thống Camera giám sát ghi nhận diễn biến vụ TNGT. Tại Bản kết luận giám định số 548/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: 02 video gửi giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung; Không xác định được vận tốc của xe ô tô con L quan đến vụ tai nạn giao thông trong các video gửi giám định; Trích xuất được 10 ảnh mô tả diễn biến nội dung sự việc trong các file video gửi giám định; Vị trí va chạm giữa xe mô tô và xe ô tô thuộc làn đường bên trái (theo hướng đi, di chuyển của xe ô tô xảy ra tai nạn giao thông).

Kết quả trưng cầu giám định kỹ thuật số và điện tử đối với chiếc thẻ nhớ lưu trữ dữ liệu Camera hành trình trên chiếc xe ô tô BKS: 30G – 339.66. Tại Bản kết luận giám định số 549/KL-KTHS ngày 24/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Không trích xuất được dữ liệu video trong khoảng thời gian từ 15h30 phút đến 15h50 phút ngày 20/01/2024.

Kết quả trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm thương tích, cơ chế hình thành vết thương của Sồng Thị D. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 119/KLTTCT-TTPY ngày 22/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Sồng Thị D tại thời điểm giám định là 78% (Bảy mươi tám phần trăm); Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích vùng đầu, mặt, chân trái do tác động trực tiếp của vật tày cứng, diện tiếp xúc giới hạn gây ra.

Kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐGTS ngày 05/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V H, tỉnh Sơn La đối với thiệt hại hư hỏng của xe ô tô BKS: 30G – 339.66 và xe mô tô BKS: 26P1 – 086.90 như sau:

- 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, Wave RSX, sơn màu trắng, đen, bạc, biển kiểm soát 26P1-086.90, số khung RLHJA383LY011144; số máy: JA52E0145646, xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông, có giá trị thiệt hại là 6.110.000 đồng.

- 01 xe ô tô nhãn hiệu MISUBISHI, loại XPANDER, màu sơn xám, bạc, số khung: MK2XNNC1WKN003574, số máy: 4A91GK3783, biển kiểm soát: 30G - 339.66, năm sản xuất 2019, nước sản xuất Indonexia, xe đã qua sử dụng cũ bị hư hỏng do tai nạn giao thông, có giá trị thiệt hại là: 52.350.000 đồng.

Kết quả xác minh giấy phép lái xe của Nguyễn Tiến L và Thào A L. Tại Công văn số: 1083/SGTVT-QLVT, PT&NL ngày 09/4/2024 của Sở giao thông vận tải tỉnh Sơn La với nội dung:

1. Sở GTVT Sơn La đã cấp GPLX cơ giới đường bộ cho ông Nguyễn Tiến L, sinh ngày 01/6/1990, nơi cư trú: xã C S, huyện M C, tỉnh Sơn La (thời điểm cấp giấy phép lái xe có số CMND 050805617) như sau:

- GPLX mô tô hạng A1 số 31079039366 cấp ngày 27/3/2020, có giá trị đến: không thời hạn.

- GPLX ô tô hạng C số 31079039366 cấp ngày 27/3/2020, có giá trị đến: 27/3/2025.

2. Cơ sở dữ liệu GPLX toàn quốc không có thông tin GPLX cơ giới đường bộ các hạng đã cấp cho ông Thào A L, sinh ngày 15/5/1969, số thẻ căn cước công dân 014069002629, nơi cư trú: Bản P K, xã L L, huyện V H, tỉnh Sơn La.

Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 xe ô tô nhãn hiệu MISUBISHI, BKS: 30G – 339.66 và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA RSX, BKS 26P1 – 086.90.

Tại kết luận định giá tài sản số 06 ngày 18/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V H, tỉnh Sơn La, kết luận định giá đối với giá trị tài sản bị thiệt hại của bức tường bằng gạch block có diện tích là 1,48m2 của gia đình ông Hoàng Xuân D như sau: Giá trị tài sản trong vụ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ xảy ra ngày 20/01/2024 tại bản C C, xã L L, huyện V H, tỉnh Sơn La, cụ thể như sau: 01 bức tường xây bằng gạch block có diện tích là 1,48m2, có giá trị định giá tại thời điểm hiện tại: 450.000 đồng.

Quá trình điều tra, giải quyết vụ án: Ngày 27/3/2024, Nguyễn Tiến L đã thỏa thuận, thống nhất bồi thường tiền mai táng phí, tổn thất tinh thần do ông Thào A L chết, bồi thường tổn hại sức khỏe đối với bà Sồng Thị D, tổng số tiền là 250.000.000 đồng. Bà Sồng Thị D đã nhận đủ tiền, không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Đối với phương tiện xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng do tai nạn giao thông, hai bên tự khắc phục, sửa chữa. Hai bên cam đoan không khiếu kiện, khiếu nại gì thêm. Gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với bức tường bằng gạch blok bị hư hỏng của ông Hoàng Xuân D, ông Dược đã tự khắc phục, sửa chữa, không yêu cầu các bên phải bồi thường.

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu MISUBISHI, loại XPANDER, BKS 30G – 339.66; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS cấp ngày 21/8/2023 cho chủ xe Mai Hữu T; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ cấp ngày 24/10/2023 cho phương tiện xe ô tô BKS 30G – 339.66; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Mai Hữu T, quá trình điều tra xác định là tài sản của Nguyễn Tiến L. Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại WAVE RSX BKS: 29P1 – 086.90; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS cấp ngày 04/9/2023 cho chủ xe Thào A L là tà sản hợp pháp của Thào A L. Ngày 03/6/2024 cơ quan CSĐT Công an huyện V H đã Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Tiến L quản lý, sử dụng 01 xe ô tô nhãn hiệu MISUBISHI, loại XPANDER, BKS 30G – 339.66 cùng toàn bộ giấy tờ L quan. Trả cho Sồng Thị D quản lý, sử dụng: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại WAVE RSX BKS: 29P1 – 086.90 cùng 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS cấp ngày 04/9/2023 cho chủ xe Thào A L.

Cáo trạng số 64/CT – VKS ngày 22/8/2024 của VKSND huyện V H, truy tố Nguyễn Tiến L về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a, b khoản 1 điều 260 BLHS. Tại phiên tòa, kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét: Tuyên bố Nguyễn Tiến L phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

* Áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, khoản 1, 2 điều 65 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt: Nguyễn Tiến L từ 24 đến 30 tháng tù, nhưng xem xét cho hưởng án treo, thử thách từ 48 đến 60 tháng.

Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.

Giao bị cáo cho gia đình và chính quyền xã C S, huyện M C, tỉnh Sơn La quản lý theo dõi trong thời gian thử thách.

* Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy của Nguyễn Tiến L. 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 phong bì niêm phong đối tượng giám định đã bóc mở + 01 thẻ nhớ gửi giám định.

+ Trả lại bị cáo Nguyễn Tiến L: 01 Giấy phép lái xe hạng C, số 310179039366, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Sơn La cấp ngày 27/3/2020, mang tên Nguyễn Tiến L.

+ Chấp nhận việc bị cáo và gia đình người bị hại đã tự nguyện thỏa thuận việc bồi thường tổng số tiền 250.000.000 đồng, gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm. Chấp nhận việc người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.

Tiếp tục lưu kèm theo hồ sơ vụ án 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 02 phong bì niêm phong đã bóc mở và 02 đĩa DVD-R.

- Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

* Ý kiến của người đại diện của người bị hại và những người có QLNVLQ thuộc hàng thừa kế thứ nhất tại giai đoạn điều tra và chuẩn bị xét xử thể hiện: Việc thỏa thuận bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 250.000.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà Sồng Thị D, và những người có QLNVLQ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Gia đình người bị hại có đơn đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận, xin HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 20/01/2024, Nguyễn Tiến L điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MISUBISHI, loại XPANDER BKS: 30G – 339.66 chở Phạm Hùng Q, Phạm Văn L, Cao Thị S và Phạm Hồng Đ đi từ xã C S, huyện M C, tỉnh Sơn La đến thành phố Hà Nội. Đến Km153 Quốc lộ 6 thuộc địa phận bản C C, xã L L, huyện V H, tỉnh Sơn La, Luật điều khiển xe ô tô đi với tốc độ khoảng 70 km/h, do không quan sát kỹ và không làm chủ tốc độ. Nên khi phát hiện cách xe Luật khoảng 50m, có xe mô tô BKS: 26P1 – 086.90 do ông Thào A L điều khiển, chở vợ là Sồng Thị D, chuyển hướng từ đường nhánh dân sinh xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình (đường không ưu tiên) ra đường Quốc lộ 6. Luật đã bấm còi, đạp phanh xe ô tô để giảm tốc độ, đồng thời đánh lái sang bên trái đường theo chiều đi nhưng do xe ô tô đi tốc độ cao nên xe đâm vào xe mô tô do Thào A L điều khiển, sau đó xe ô tô đâm vào bục tường xây bên trái đường và dừng lại.

Hậu quả: Ông Thào A L và bà Sồng Thị D ngã xuống mặt đường nhựa và được đưa đi cấp cứu, sau đó ông Thào A L tử vong tại bệnh viện; Bà Sồng Thị D bị thương phải nằm viện điều trị, tỷ lệ thương tích là 78%; xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng.

Như vậy, Nguyễn Tiến L có giấy phép lái xe theo quy định, trong người không có nồng độ cồn, điều khiển xe ô tô không vi phạm tốc độ, nhưng không làm chủ tốc độ khi quan sát thấy có phương tiện tham gia giao thông đi từ đường nhánh ra đường chính đã đâm vào xe mô tô BKS: 26P1 – 086.90, do ông Thào A L điều khiển (Ông L không có Giấy phép lái xe) gây hậu quả ông Thào A L chết và bà Sồng Thị D bị thương.

Hành vi của Nguyễn Tiến L vi phạm Điều 9, Điều 12 Luât giao thông đường bộ năm 2008; Khoản 1, 2 Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải, điểm a, b khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự.; Hành vi của Thào A L vi phạm Điều 8, Điều 24 Luật giao thông đường bộ năm 2008.

Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Các hành vi bị nghiêm cấm

1…..

8. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.

9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.

Điều 9 Luật giao thông đường bộ. Quy tắc chung

1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

2…..

Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe

1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.

2…..

Điều 24 Luật giao thông đường bộ. Nhường đường tại nơi đường giao nhau

Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc độ và nhường đường theo quy định sau đây:

1. ….

3. Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới.

Điều 5 Thông tư số 31. Các trường hợp phải giảm tốc độ

Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;

2. Chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế;

3.......

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) ………………………………………..

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn giao thông, cần phải áp dụng mức phạt tương xứng, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

. Về phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo vi phạm quy định về điều kiện của người tham gia giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng, nhưng không có mục đích vụ lợi, không hành nghề L quan đến điều khiển phương tiện giao thông. Do vậy, không cần thiết cấm hành nghề hoặc làm công việc L quan đến điều khiển phương tiện là xe ô tô.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Sau khi phạm tội đã chủ động tích cực cùng gia đình người bị hại thỏa thuận bồi thường thiệt hại toàn bộ chi phí, được đại diện của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, chưa có tiền án, tiền sự, người bị hại Thào A L có một phần lỗi dẫn đến vụ tai nạn giao thông (Không có Giaayspheps lái xe, trong người có nồng độ cồn), nên được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. HĐXX xét thấy, không cần thiết phải xử phạt tù đối với bị cáo, mà xem xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách thích hợp, tạo điều kiện để bị cáo được giáo dục cải tạo tại địa phương, cũng có tác dụng răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

HĐXX xét thấy, Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện V H, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện V H, tỉnh Sơn La trong qua trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục Tố tụng, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại. Lời khai của người có QLNVLQ và người làm chứng tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án.

Về bồi thường dân sự: Xét thấy bị cáo và gia đình người bị hại đã tự nguyện thỏa thuận việc bồi thường số tiền 250.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của người bị hại, đại diện theo ủy quyền của những người có QLNVLQ không yêu cầu bồi thường gì thêm. HĐXX xét thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, cần chấp nhận. Người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan, ông Hoàng Xuân D đã tự nguyện khắc phục bức tường bị xe ô tô của bị cáo đâm đổ, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, HĐXX chấp nhận và không đặt vấn đề giải quyết.

Vật chứng của vụ án: Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy của Nguyễn Tiến L là vật không còn giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.

01 Giấy phép lái xe hạng C, số 310179039366, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Sơn La cấp ngày 27/3/2020, mang tên Nguyễn Tiến L, là vật L quan đến nhân thân của bị cáo, cần tuyên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu MISUBISHI, loại XPANDER, BKS 30G – 339.66; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc Trách nhiệm dân sự cấp ngày 21/8/2023 cho chủ xe Mai Hữu T; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ cấp ngày 24/10/2023 cho phương tiện xe ô tô BKS 30G – 339.66; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Mai Hữu T, quá trình điều tra xác định là tài sản của Nguyễn Tiến L. Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại WAVE RSX BKS: 29P1 – 086.90; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc Trách nhiệm dân sự cấp ngày 04/9/2023 cho chủ xe Thào A L là tà sản hợp pháp của ông Thào A L.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V H đã Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ô tô cùng toàn bộ giấy tờ L quan cho Nguyễn Tiến L; trả lại xe mô tô cho Sồng Thị D quản lý, sử dụng cùng toàn bộ giấy tờ L quan là phù hợp, được chấp nhận.

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 02 phong bì niêm phong đã bóc mở và 02 đĩa DVD-R, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 phong bì niêm phong đối tượng giám định đã bóc mở + 01 thẻ nhớ gửi giám định, là vật L quan đến vụ án, cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Bị cáo phạm tội, bị xét xử, do vậy phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến L phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

1. Áp dụng các điểm a, b khoản 1 điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, khoản 1, 2 điều 65 BLHS, xử phạt: Nguyễn Tiến L 24 (Hai bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (17/9/2024).

Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Giao bị cáo cho gia đình và chính quyền xã C S, huyện M C, tỉnh Sơn La quản lý theo dõi trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm a, b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy của Nguyễn Tiến L.

+ Trả lại bị cáo: 01 Giấy phép lái xe hạng C, số 310179039366, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Sơn La cấp ngày 27/3/2020, mang tên Nguyễn Tiến L.

Đề nghị Chi cục Thi hành án dân sự huyện V H chuyển ngay cho Tòa án để tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ của vụ án: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 phong bì niêm phong đối tượng giám định đã bóc mở + 01 thẻ nhớ gửi giám định.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 97/BBVC – CCTHA, ngày 26/8/2024 của Chi cục THADS huyện V H.

Tiếp tục lưu kèm theo hồ sơ vụ án 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 02 phong bì niêm phong đã bóc mở và 02 đĩa DVD-R.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V H đã trả lại xe ô tô BKS 30G – 339.66 cùng toàn bộ giấy tờ L quan cho Nguyễn Tiến L; trả lại xe mô tô BKS: 29P1 – 086.90 cùng toàn bộ giấy tờ L quan cho Sồng Thị D quản lý, sử dụng.

3. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ khoản 1 điều 48 BLHS, điều 584, 585, 586, 589, 590, 591 BLDS:

Chấp nhận việc bị cáo cùng gia đình người bị hại, những người có QLNVLQ đã tự nguyện thỏa thuận việc bồi thường tổng số tiền 250.000.000 đồng. Gia đình người bị hại và những người có QLNVLQ không yêu cầu bồi thường gì thêm.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người đại diện theo ủy quyền của người có QLNVLQ thuộc hàng thừa kế thứ nhất có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có QLNVLQ, Người đại diện hợp pháp của những người thừa kế thế vị vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAT;

- VKS tỉnh, huyện;

- CA huyện,

- CQ THAHS;

- Sở TP;

- Trại Giam;

- Luật sư;

- Bị cáo;

- Người TGTT khác;

- Lưu HS;

Nguyễn Đăng Quang

- Lưu VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đăng Quang

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án Q sự khu vực thì ghi tên Tòa án Q sự khu vực gì thuộc Q khu, Q chủng nào; nếu là Tòa án Q sự Q khu, Q chủng thì ghi tên Tòa án Q sự Q khu, Q chủng (ví dụ: Tòa án Q sự Q khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (Q nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (Q nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của

Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (Q nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (Q nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (Q nhân). Nếu vụ án do Tòa án Q sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc Q hàm.

(6)ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thânghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có L quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ