vanban.org

Bản án 94/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 02/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của…

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thanh S phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh S 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 22/4/2023 đến ngày 27/4/2023 là 05 (năm) ngày được quy đổi thành 15 (mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thanh S - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁNNHÂN DÂN
THÀNH PHỐ V
TỈNH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------------------
Bản án số: 94/2023/HSST
Ngày 02 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH P

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị H

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Đ

2. Ông Đào Công Tr

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích H - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố VT, tỉnh T.

- Đại diện Viện kiểm sát thành phố VT, tỉnh T tham gia phiên tòa: Bà Trần Khánh H - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố VT, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2023/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Hoàng Thanh S; sinh ngày 26/11/1992; Hộ khẩu thường trú: Phố Thành Công, phường Thọ S, thành phố VT, tỉnh T; Nơi ở hiện tại: Tổ 10, phố Hoà Bình, phường B, thành phố VT, tỉnh T; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Hoàng Đ T và bà Chu Thị V; Có vợ là Nguyễn Thị Thuỳ D và có 03 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 22/4/2023 đến ngày 27/4/2023 huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, khởi tố bị can và ra lệnh “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại phường B, thành phố VT, tỉnh T. (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1998, hộ khẩu thường trú: Phố Sông Thao, phường Thọ S, thành phố VT, tỉnh T. (Vắng mặt)

2. Nguyễn Quang L, sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú: Tổ 1, phố Phong Châu, phường H, thành phố VT, tỉnh T. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 10 phút ngày 22/4/2023, tại đường dân sinh thuộc tổ 10, phố Hoà Bình, phường B, thành phố VT, tỉnh T, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an thành phố VT kiểm tra, phát hiện Hoàng Thanh S đang sử dụng 02 chiếc điện thoại di động gồm 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Sam sung Galaxy A13, màu xanh, số Imei: 352469858244438, kèm sim số 0962.000.216 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Sam sung Galaxy A13, màu đen, số Imei: 352469858481451, kèm sim số 0986.158.010 có nội dung tin nhắn bán số lô, số đề. S khai nhận dùng 02 chiếc điện thoại nêu trên để nhắn tin bán số lô, số đề cho Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1998, hộ khẩu thường trú: Phố Sông Thao, phường Thọ S, thành phố VT, tỉnh T với số tiền 4.700.000đ (Bốn triệu, bảy trăm nghìn đồng) và Nguyễn Quang L, sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú: Tổ 1, phố Phong Châu, phường H, thành phố VT, tỉnh T với số tiền 3.950.000đ (Ba triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng số tiền S bán số lô, số đề cho Đ và L trong ngày 22/4/2023 là 8.650.000đ (Tám triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Tổ công tác tiến hành lập biên bản hành chính và thu giữ 02 chiếc điện thoại mà S đã sử dụng bán số lô, số đề cho Đ và L.

Cơ quan điều tra, tiến hành triệu tập Nguyễn Minh Đ và Nguyễn Quang L làm việc. Tại Cơ quan điều tra, S, Đ và L khai nhận như sau: Do Hoàng Thanh S không có việc làm ổn định, muốn có thêm tiền để tiêu sài cá nhân nên S đã nảy sinh ý định bán số lô, số đề cho những người có nhu cầu. S có quen biết Nguyễn Minh Đ và Nguyễn Quang L nên S nói với Đ và L khi nào có nhu cầu mua số lô, số đề thì nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho S. Khoảng 17 giờ 12 phút ngày 22/4/2023, Nguyễn Minh Đ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu vàng gold, số imel: 353312075325110, lắp sim số 0563.704.333 đăng nhập tài khoản Zalo mang tên “Minh Đ Nguyễn” nhắn tin đến tài khoản Zalo “A Ba Rưa” đăng ký số điện thoại 0962.000.216 của S để mua số lô, số đề với nội dung: Số lô 68, 86, 98, 89 mỗi số 50 điểm, giá 23.000đồng/điểm và số đề 89 là 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Sau đó Đ chuyển khoản số tiền 4.700.000đ (Bốn triệu, bảy trăm nghìn đồng) là tiền mua các số lô, số đề trên từ số tài khoản 2708281002904 của Đ mở tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đến số tài khoản 107870190427 của S mở tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Sau khi nhận được tin nhắn của Đ, S nhắn tin lại cho Đ là “ok e” có nghĩa là đồng ý bán số lô, số đề nói trên cho Đ.

Tiếp đến 18 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Quang L sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng gold, số imel: 353100101538396, đăng nhập tài khoản Zalo có tên “Beo..Ăn” đăng ký bằng số điện thoại 0913.957.917 của Nguyễn Quang L đến tài khoản Zalo “Hoàng S” đăng ký bằng số điện thoại 0986.158.010 của S để hỏi mua 10 số lô gồm 76, 32, 23, 58, 85, 14, 41, 02, 20, 80 mỗi số 15 điểm, 23.000đồng/điểm và 10 số đề gồm 80, 24, 25, 04, 50, 60, 59, 66, 99, 45 mỗi số 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng). Tổng số tiền là 3.950.000đ (Ba triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng). S yêu cầu L chuyển tiền vào số tài khoản 107870190427 của S mở tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam thì L nhắn tin lại cho S “Được thua mai anh thanh toán nhé ok thì báo anh”. Sau đó S nhắn lại cho L là “ok a” có nghĩa là đồng ý bán số lô, số đề nói trên cho L. Sau khi bán số lô, số đề qua tin nhắn ứng dụng Zalo cho Đ và L đến 18 giờ 10 phút cùng ngày thì S bị tổ công tác Công an thành phố VT kiểm tra và phát hiện hành vi vi phạm như đã nêu trên.

Hình thức đánh bạc và tỉ lệ thắng thua được S và các đối tượng thỏa thuận, thống nhất như sau: Số lô, số đề là số tự nhiên gồm hai chữ số; số đề được so sánh với hai số cuối của giải đặc biệt và số lô được so sánh với hai số cuối tất cả các giải thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng vào 18 giờ 15 phút cùng ngày. Nếu số đề của người mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì người chơi sẽ thắng và S sẽ phải trả cho người đó số tiền tương ứng gấp 70 lần số tiền mà khách đã mua số đề (Cứ 1.000đ thì được trả 70.000đ). Nếu số lô người mua trùng với hai số cuối của một trong các giải thì người đó sẽ thắng, cứ 1 điểm lô giá 23.000đ (Hai mươi ba nghìn đồng) S phải trả cho khách thắng 80.000đ (Tám mươi nghìn đồng). Số lô, số đề bán cho Đ và L, S giữ lại không chuyển cho ai khác. Nếu người mua không thắng thì S sẽ được hưởng số tiền mà khách đã mua số đề, số lô nói trên. S và các đối tượng thỏa thuận sẽ thanh toán tiền với nhau vào ngày hôm sau, khi đã so sánh kết quả và biết thắng thua.

Hành vi đánh bạc của Hoàng Thanh S dưới hình thức bán số lô, số đề cho Đ và L bị phát hiện, bắt giữ, ngăn chặn trước khi có kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng cùng ngày, do vậy S phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền đánh bạc là 8.650.000đ (Tám triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Thanh S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đối với Nguyễn Minh Đ và Nguyễn Quang L là người đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề của S, nhưng do số tiền của các đối tượng dùng để đánh bạc chưa đến 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền của Đ là 4.700.000đ (Bốn triệu, bảy trăm nghìn đồng), số tiền của L là 3.950.000đ (Ba triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng). Các đối tượng đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc và chưa bị kết án về tội “Đánh bạc” hoặc tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nên Cơ quan điều tra đã chuyển Công an thành phố VT ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ và L bằng hình thức phạt tiền, mức phạt là 350.000đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Về động cơ, mục đích, nguyên nhân phạm tội của bị cáo: Hoàng Thanh S đánh bạc với hình thức bán số lô, số đề để lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 02 chiếc điện thoại di động gồm 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu xanh, số IMEI 1: 352469858244438; số IMEI 2: 357132378244438 đã qua sử dụng, kèm sim số 0962.000.216 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, số IMEI 1: 352469858481451, số IMEI 2: 357132378481451 đã qua sử dụng, kèm sim số 0986.158.010 thu giữ của Hoàng Thanh S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu gold, dung lượng 64Gb, số IMEI: 353100101538396, số IMEI 2: 353100101539253 đã qua sử dụng, kèm sim số 0913.957.917 của Nguyễn Quang L; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu gold, dung lượng 16Gb, số IMEI: 353312075325110 đã qua sử dụng, gắn kèm 01 sim của Nguyễn Minh Đ là những công cụ, phương tiện các đối tượng sử dụng cho việc đánh bạc ngày 22/4/2023 đều được tạm giữ chờ xử lý theo quy định của pháp luật; Đối với số tiền 4.700.000đ (Bốn triệu, bảy trăm nghìn đồng) thu giữ của S, là tiền S bán số lô cho Đ mà có và số tiền 3.950.000đ (Ba triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng) L tự nguyện nộp lại là tiền mà L đã mua số lô, số đề của S được tạm giữ chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về điều kiện kinh tế của bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định: Bị cáo không có tài sản gì riêng có giá trị.

* Tại bản Cáo trạng số: 100/CT-VKS-VT ngày 10 tháng 7 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT, tỉnh T truy tố bị cáo Hoàng Thanh S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Thanh S phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh S từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 22/4/2023 đến ngày 27/4/2023 là 05 (năm) ngày được quy đổi thành 15 (mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố VT, tỉnh T nhận được quyết định thi hành án. Giao cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố VT, tỉnh T giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Hoàng Thanh S.

Bị cáo Hoàng Thanh S phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Ủy ban nhân dân phường B, thành phố VT, tỉnh T thực hiện buộc bị cáo Hoàng Thanh S lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong 01 (một) tuần.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Thanh S.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 8.650.000đ (Tám triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng) là khoản tiền Hoàng Thanh S đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Minh Đ và Nguyễn Quang L.

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu xanh, số IMEI 1: 352469858244438; số IMEI 2: 357132378244438 đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, số IMEI 1: 352469858481451, số IMEI 2: 357132378481451 đã qua sử dụng của bị cáo Hoàng Thanh S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu gold, dung lượng 64Gb, số IMEI: 353100101538396, số IMEI 2: 353100101539253 đã qua sử dụng của Nguyễn Quang L; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu gold, dung lượng 16Gb, số IMEI: 353312075325110 của Nguyễn Minh Đ do đây là công cụ, phương tiện phạm tội sử dụng vào việc nhắn tin mua bán số lô, số đề.

+ Tịch thu tiêu hủy đối với 04 sim điện thoại, trong đó 03 sim số 0962.000216; số 0986.158.010; số 0913.957.917 và 01 sim gắn trong chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S, màu gold của Nguyễn Minh Đ do không còn giá trị sử dụng.

- Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố VT, tỉnh T; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT, tỉnh T; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận như sau:

Hồi 18 giờ 10 phút ngày 22/4/2023, tại đường dân sinh thuộc tổ 10, phố Hoà Bình, phường B, thành phố VT, tỉnh T, Hoàng Thanh S đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Minh Đ với số tiền 4.700.000đ (Bốn triệu, bảy trăm nghìn đồng), Nguyễn Quang L với số tiền 3.950.000đ (Ba triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng). Do vậy, Hoàng Thanh S phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc là 8.650.000đ (Tám triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý kết L bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT, tỉnh T truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

. Bị cáo Hoàng Thanh S nhận thức được hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề là hành vi nguy hiểm cho xã hội và bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của Hoàng Thanh S không những xâm phạm đến trật tự công cộng, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Về tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm cũng đủ răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội.

. Sau khi phạm tội đến nay, bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo là phù hợp.

. Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố VT thấy rằng ngoài đồ dùng sinh hoạt cá nhân, bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền Hoàng Thanh S đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Minh Đ và Nguyễn Quang L là 8.650.000đ (Tám triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng) là khoản tiền thu lời bất chính nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.

- Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu xanh, số IMEI 1: 352469858244438; số IMEI 2: 357132378244438 đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, số IMEI 1: 352469858481451, số IMEI 2: 357132378481451 đã qua sử dụng của bị cáo Hoàng Thanh S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu gold, dung lượng 64Gb, số IMEI: 353100101538396, số IMEI 2: 353100101539253 đã qua sử dụng của Nguyễn Quang L; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu gold, dung lượng 16Gb, số IMEI: 353312075325110 của Nguyễn Minh Đ là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.

- Đối với 03 sim số 0962.000.216; số 0986.158.010; số 0913.957.917 và 01 sim gắn trong chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S, màu gold của Nguyễn Minh Đ do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

. Những nội dung khác:

Đối với Nguyễn Minh Đ và Nguyễn Quang L là người đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề của S, nhưng do số tiền của các đối tượng dùng để đánh bạc chưa đến 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Các đối tượng đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc và chưa bị kết án về tội “Đánh bạc” hoặc tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nên Cơ quan điều tra đã chuyển Công an thành phố VT đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ và L bằng hình thức phạt tiền, mức phạt là 350.000đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

. Xét đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt cũng như những nội dung khác là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Thanh S phạm tội “Đánh bạc”.

2. Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh S 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 22/4/2023 đến ngày 27/4/2023 là 05 (năm) ngày được quy đổi thành 15 (mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố VT, tỉnh T nhận được quyết định thi hành án. Giao cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố VT, tỉnh T giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Về khấu trừ thu nhập: Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Hoàng Thanh S.

Bị cáo Hoàng Thanh S phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Ủy ban nhân dân phường B, thành phố VT, tỉnh T thực hiện buộc bị cáo Hoàng Thanh S lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong 01 (một) tuần.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Thanh S.

4. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

+ Số tiền: 8.650.000đ (Tám triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng). (Theo Biên lai thu tiền số AA/2022/0000175 ngày 13/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố VT, tỉnh T).

+ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu xanh, số IMEI 1: 352469858244438; số IMEI 2: 357132378244438 đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, số IMEI 1: 352469858481451, số IMEI 2: 357132378481451 đã qua sử dụng của bị cáo Hoàng Thanh S;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu gold, dung lượng 64Gb, số IMEI: 353100101538396, số IMEI 2: 353100101539253 đã qua sử dụng của Nguyễn Quang L.

+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu gold, dung lượng 16Gb, số IMEI: 353312075325110 của Nguyễn Minh Đ;

- Tịch thu tiêu hủy: 04 sim điện thoại gồm: 03 sim số 0962.000.216; số 0986.158.010; số 0913.957.917 và 01 sim gắn trong chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S, màu gold, đã qua sử dụng của Nguyễn Minh Đ.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố VT, tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố VT, tỉnh T).

5. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Thanh S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ