- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Xử phạt: Nguyễn Tuấn P 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 01/01/2023; Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 94/2023/HSST Ngày: 20/4/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Quang Huy
2.Ông Lê Đình Hiệp
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thùy Dương,Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 70/2023/HSST ngày 16/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tuấn P, tên gọi khác: không; sinh ngày 12 tháng 5 năm 1989; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 5, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp:Lao động tự do; trình độ học vấn:12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Tuấn Minh và con bà Phan Thị M; Vợ: Nguyễn Thị L (đã ly hôn), Nguyễn Thị Phương L (đã ly hôn); có 03 con; Tiền án - Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2023 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).
* Người chứng kiến:
1. Ông Lê Văn C, sinh năm 1971, trú tại: Tổ 05, phường P , thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).
2. Vũ Văn T, sinh năm 1960, trú tại: Tổ 05, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 00 Pt ngày 01/01/2023, tổ công tác của Công an phường P Xá, thành phố Thái Nguyên đang tuần tra kiểm soát tại khu vực thuộc tổ 05 của phường thì phát hiện 01 người đàn ông đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai họ tên là Nguyễn Tuấn P và phát hiện thu giữ tại túi áo khoác ngoài phía trước bên phải P đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa: chất tinh thể màu trắng hồng, 01 viên nén màu hồng và 01 mảnh viên nén màu xanh xám. P khai nhận đó là ma túy tổng hợp dạng đá và hồng phiến vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với P, thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành cân xác định khối lượng số chất nghi ma túy thu giữ của P, cụ thể:
- Toàn bộ số chất tinh thể màu trắng hồng có khối lượng 0,086 gam, lấy toàn bộ đưa vào phong bì niêm phong ký hiệu P1 gửi đi giám định.
- 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,108 gam, lấy toàn bộ đưa vào phong bì niêm phong ký hiệu P2 gửi đi giám định.
- 01 mảnh viên nén màu xanh xám có khối lượng 0,056 gam, lấy toàn bộ đưa vào phong bì niêm phong ký hiệu P3 gửi đi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 18/KL-KTHS ngày 10/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng hồng trong bì niêm phong ký hiệu P1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,086 gam.
- Viên nén màu hồng trong bì niêm phong ký hiệu P2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,108 gam.
- Mảnh viên nén màu xám xanh ký hiệu P3 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,056 gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Tuấn P khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 01/01/2023, P đi bộ từ nhà xuống khu vực thuộc phường P Xá, thành phố Thái Nguyên mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, P gặp và mua được của một nam thanh niên không quen biết 01 túi ma túy tổng hợp đá và ma túy hồng phiến được gói bằng túi nilon màu trắng, với số tiền 300.000 đồng. Mua được ma túy, P cất giấu vào trong túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy, Khi đi được một đoạn thì bị tổ công tác của công an phường P Xá, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang như nêu trên.
Lời khai nhận tội của Nguyễn Tuấn P phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng tài liệu có trong hồ sơ.
Vật chứng: 04 bì niêm phong ký hiệu P1, P2, P3, P4. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKSTPTN ngày 15/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định truy tố Nguyễn Tuấn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận,vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giữ quyền công tố đã trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn P phạm tội“ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn P: Từ 21 đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu P1 bì niêm phong chứa vỏ bao mẫu P1; 01 bì niêm phong ký hiệu P2 bên trong chứa vỏ bao mẫu P2; 01 bì niêm phong ký hiệu P3 bên trong chứa vỏ bao mẫu P3; 01 bì niêm phong ký hiệu P4 bên trong chứa bì ban đầu.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội.Lời nói sau cùng của bị cáo hứa sửa chữa và xin được hưởng mức án nhẹ nhất, để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn P và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
.Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Tuấn P thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện.Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến với vật chứng đã thu được, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Hồi 14 giờ 00 Pt ngày 01/01/2023, tại khu vực tổ 5, phường P Xá, thành phố Thái Nguyên, Nguyễn Tuấn P có hành vi tàng trữ 0,250 gam chất ma túy, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường P Xá, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng.
Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm vàhìnhphạtquy địnhtạiđiểm ckhoản1Điều249Bộluật hình sự.
. Bản cáo trạng số 80/CT-VKSTPTN ngày 15/3/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn P về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều 249 quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c, ..., Methamphetamine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ”.
Về tính chất, mức độ hành vi: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng,hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội nhưng do không làm chủ được bản thân nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Nguyễn Tuấn P trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản, thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về việc xử lý hành vi và các đối tượng có liên quan: Nguồn gốc số ma tuý thu giữ, P khai mua của một nam thanh niên không rõ lai lịch, địa chỉ tại khu vực phường P Xá, thành phố Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu P1 bì niêm phong chứa vỏ bao mẫu P1; 01 bì niêm phong ký hiệu P2 bên trong chứa vỏ bao mẫu P2; 01 bì niêm phong ký hiệu P3 bên trong chứa vỏ bao mẫu P3; 01 bì niêm phong ký hiệu P4 bên trong chứa bì ban đầu.
.Án phí và quyền kháng cáo:Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
1/ Xử phạt: Nguyễn Tuấn P 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 01/01/2023; Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2/ Vềhìnhphạtbổsung: Khôngápdụnghìnhphạtbổsunglà phạttiền đốivớibịcáo.
3/ Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu P1 bì niêm phong chứa vỏ bao mẫu P1; 01 bì niêm phong ký hiệu P2 bên trong chứa vỏ bao mẫu P2; 01 bì niêm phong ký hiệu P3 bên trong chứa vỏ bao mẫu P3; 01 bì niêm phong ký hiệu P4 bên trong chứa bì ban đầu.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 272 ngày 23/3/2023 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).
4/Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Tuấn P phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5/ Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
| Nơi nhận: - VKSND TP. Thái Nguyên; - Công an TP. Thái Nguyên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Chi cục THADS TP.Thái Nguyên; - THA phạt tù; - Người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - UBND phường Tân Lập, TP.Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; - Lưu:Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Minh Hải |