- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Tiến Đạt 260.2 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Tiến Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2023/HSST Ngày 26/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thái;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Mỳ;
Ông Đặng Văn Nga;
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thanh Hải;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:
Đặng Tiến Đ, sinh năm 2004, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: tổ 8, ấp 1, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Đức T, sinh năm 1974 và bà Đặng Thị K, sinh năm 1976; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất, chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại - Có mặt.
Người bị hại: Ông Kim Văn S - sinh năm 1961 - đã chết;
Đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Kim Văn C, sinh năm 1985 - có mặt;
Nơi cư trú: ấp Cây Cầy, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Đặng Thị K, sinh năm 1976 - có mặt;
Địa chỉ: tổ 8, ấp 1, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
2. Bà Đỗ Thị Túy N, sinh năm 1960 - vắng mặt;
Địa chỉ: số 386/3A, đường Lê Văn Sỹ, phường 14, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh;
3. Ông Trần Minh Th, sinh năm 1969 - vắng mặt;
Địa chỉ: ấp Nhân Tiến, xã Xuyên Mộc, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
Người làm chứng: Anh Phạm Văn Q, sinh năm 1978 - vắng mặt;
Địa chỉ: ấp Lý Lịch 2, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 35 phút ngày 13/6/2022, Đặng Tiến Đ (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển mô tô biển số 59P1-911.91 có dung tích xi lanh 102cm lưu thông hướng từ ngã ba chợ Phú Lý về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu. Khi xe Đ đến đoạn km 32 đường ĐT 761 thuộc ấp Lý Lịch 1, xã Phú Lý; đường được trải nhựa phẳng, có vạch phân tuyến đứt quãng chia hai phần đường, chiều rộng mặt đường là 06 m, mật độ lưu thông qua lại ít, ánh sáng ban ngày, tầm nhìn không bị che khuất. Đ điều khiển xe lưu thông ở phần đường bên phải theo chiều đi của mình với vận tốc khoảng 60km/h. Đ nhìn thấy phía trước khoảng 10 m có xe mô tô biển số 72H1-6501 do ông Kim Văn S - sinh năm 1961, ngụ tại ấp Cây Cầy, xã Phú Lý (đã uống rượu bia có nồng độ Ethanol trong máu 278,46mg/100ml) điều khiển chở phía sau anh Phạm Văn Q - sinh năm 1984, ngụ tại ấp Lý Lịch 2, xã Phú Lý đang lưu thông hướng ngược lại lạng lách từ bên này qua bên kia. Đ điều khiển xe lách sang trái để tránh xe ông Sáng và khi xe Đ lấn trái qua tim đường và sang phần đường hướng ngược lại thì phần đầu bên phải xe Đ đụng vào phần bánh trước bên phải xe ông S, làm hai xe ngã ra đường gây tai nạn giao thông. Hậu quả: ông Kim Văn S tử vong tại chỗ, anh Phạm Văn Q bị gãy chân.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:
- Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, phẳng, mặt đường trải nhựa, có vạch phân tuyến đứt quãng chia hai phần đường; mặt đường rộng 6m. Hiện trường được cố định bởi trụ điện số 23A đứng ngoài mặt đường bên phải hướng UBND xã Phú Lý ngã ba chợ Phú Lý, lấy mép lề đường phải theo hướng UBDN xã Phú Lý về ngã ba chợ Phú Lý làm mép lề chuẩn và làm mốc cố định để đo vẽ hiện trường.
- Xe mô tô biển số 59P1-911.19 ngã sang bên trái, đầu xe quay về hướng UBND xã Phú Lý, đuôi xe quay về hướng ngã ba chợ Phú Lý. Trục bánh trước, bánh sau cách lề phải hướng đi lần lượt là 3m70 và 4m30; trục bánh sau cách trụ điện số 23A là 4m70.
- Xe mô tô biển số 72H1-6501 ngã sang bên trái, đầu xe quay về hướng lề phải, đuôi xe quay hướng lòng đường. Trục trước xe mô tô cách lề phải hướng đi là 3m30 và cách với trục trước xe mô tô 59P1-911.19 là 1m60. Trục sau xe mô tô cách lề phải hướng đi là 4m20.
Vết mảnh vỡ 4m00 x 2m90 nằm rải rác trên mặt đường trước và sau đầu xe mô tô 59P1-911.91, tâm vết mảnh vỡ cách lề phải hướng đi xe mô tô biển số 59P1-911.19 là 3m70.
- Trụ điện số 23A đứng ngoài lề đường phía bên phải theo hướng UBDN xã Phú Lý về hướng chợ Phú Lý. Tâm trụ điện cách lề phải hướng đi xe mô tô biển số 72H1-6501 là 2m90 và cách trục bánh sau xe mô tô 59P1-911.91 là 4m70.
- Tử thi dài 1m60 nằm trên mặt đường, đầu tử thi quay về hướng lề chuẩn, chân tử thi quay ra lòng đường. Tâm điểm đầu tử thi cách lề chuẩn là 2m70 và cách với trục trước xe mô tô 72H1-6401 là 1m40.
Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan tai nạn giao thông xác định:
- Xe mô tô biển số 59P1-911.19 có các dấu vết: Tay thắng bên phải văng rời khỏi vị trí; Thắng đĩa phía trước bể vỡ văng khỏi vị trí; Vết chà mòn kim loại kích thước 3,5cm x 2,5cm ống giảm sóc phía trước bên phải; Cụm đèn chiếu sáng + chuyển hướng trái, phải bể vỡ văng khỏi vị trí; Vết chà mòn kim loại kích thước 4,5cm x 3cm mặt ngoài ốp bảo vệ lốc máy bên phải; Vết chà mòn kim loại kích thước 30cm x 60cm mặt ngoài bên phải ống giảm thanh; Vết chà mòn kim loại kích thước 3cm x 3cm mặt ngoài phía trước ốp bảo vệ lốc máy; Vết chà mòn kim loại kích thước 2,5cm x 2cm phía trước tay lái bên phải; Cần thắng cong gập hướng trước ra sau; Ốp bảo vệ thân xe trái phải bể vỡ văng khỏi vị trí; Gác chân bên phải cong gập hướng trước ra sau; Ống giảm thanh gãy văng rời khỏi vị trí.
- Xe mô tô biển số 72H1-6501 có các dấu vết: Cụm đèn chiếu sáng + đèn chuyển hướng trái, phải + chắn bùn + mặt nạ bánh xe phía trước bể vỡ văng rời khỏi vị trí; Ông giảm sóc trước trái phải cong gập hướng từ trước ra sau; Vết chà mòn kim loại kích thước 2,5 x 1,5cm tay lái bên trái; Cần thắng cong gập hướng từ trước ra sau; Chắn bùn phía trước bể vỡ văng rời khỏi vị trí; Gác chân bên trái cong gập hướng từ dưới lên trên.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 2383/KLGĐ-PC09 ngày 10/8/2022 của Giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận nguyên nhân tử vong của ông Kim Văn S như sau:
- Dấu hiệu chính: Bên ngoài xây sát da vùng ngực, xây sát da vùng bụng; rách da vùng đầu dưới cẳng tay lòi đầu dưới xương trụ, xây sát da vùng đùi, gãy đầu trên xương chầy cẳng chân. Giải phẫu thấy tụ máu dưới da vùng ngực, trong khoang lồng ngực trái chứa đầy máu loãng; phổi phải thấy dập tụ máu; rách bao màng tim thành bên trái, rách gốc quai động mạch chủ.
- Nguyên nhân tử vong: Sốc đa chấn thương; chấn thương ngực kín dập phổi, rách gốc quai động mạch chủ/ trật đầu dưới xương quay và xương trụ cẳng tay, gãy đầu trên xương chầy cẳng chân.
- Kết quả nồng độ Ethanol trong máu =278,46mg/100ml.
Tại Kết luận giám định số 21/KL-KTHS ngày 12/12/2022 của Giám định viên Phân viện khoa học Hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh - Bộ Công an kết luận cơ chế va chạm của các phương tiện gây tai nạn như sau:
- Xe mô tô biển số 72H1-6501 và xe mô tô biển số 59P1-911.91 có va chạm với nhau. Phía trước bên phải xe mô tô biển số 72H1-6501 và phía trước bên phải xe mô tô biển số 59P1-911.91 va chạm với nhau.
- Cơ chế va chạm và chiều hướng hình thành dấu vết va chạm giữa hai phương tiện: Dấu vết trượt xước, gãy vỡ, biến dạng các chi tiết phía trước bên phải xe mô tô biển số 72H1-6501 (bánh xe, cung chắn bùn, phía dưới giảm xóc, cần đạp phanh) có chiều từ trước về sau, dấu vết trên bánh xe có chiều từ mặt lăn vào tâm bánh phù hợp dấu vết trượt xước, gãy vỡ, biến dạng các chi tiết phía trước bên phải xe mô tô biển số 59P1-911.91 (cung chắn bùn, phía dưới giảm xóc, má phanh trước, cánh yếm, cần đạp phanh sau, đề chân trước) có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải.
- Không đủ cơ sở xác định các mảnh vỡ là của phương tiện nào trong vụ tai nạn giao thông nêu trên.
Vật chứng vụ án: 02 xe ô tô biển số: 59P1-911.91 và 72H1-6501. Kết điều xác minh nguồn gốc xe xác định:
- Xe mô tô biển số 72H1-6501 do Trần Minh T, cư trú tại ấp Nhân Tiến, xã Xuyên Mộc, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đứng tên chủ sở hữu. Năm 2006 anh T bán xe cho người đàn ông (không rõ lai lịch). Năm 2010, ông Sáng mua lại xe nhưng không làm thủ tục sang tên.
- Xe mô tô biển số 59P1-911.91 do Đỗ Thị Túy N, cư trú tại 281/43/5 Lê Văn Sỹ, phường 1, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Chị Nguyệt đã bán xe cho một người (không rõ lai lịch) và chị Đặng Thị K mua lại xe trên nhưng không làm thủ tục sang tên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã giao trả xe mô tô biển số 59P1-911.91 cho bà Đặng Thị K; xe mô tô 72H1- 6501 cho anh Kim Văn Chưa - đại diện người bị hại.
Về trách nhiệm dân sự: Đặng Tiến Đ và gia đình đã bồi thường cho anh Kim Văn C (đại diện bị hại Kim Văn Sáng) 60.000.000 đồng, anh C không yêu cầu bồi thường thêm.
Anh Phạm Văn Q bị thương tích nhẹ không yêu cầu bồi thường.
Tại Bản Cáo trạng số 98/CT-VKSVC ngày 22 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố bị cáo Đặng Tiến Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau:
+ Tình tiết giảm nhẹ: Bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Đại diện bị hại có đơn bãi nại, theo điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
+ Tình tiết tăng nặng: không có
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Đặng Tiến Đ mức án từ 02 năm đến 02 năm 04 tháng tù.
Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì, do đó các hành vi và quyết định đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay là thống nhất, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.
Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 16 giờ 35 phút ngày 13/6/2022, tại Km 32 đường ĐT 761 thuộc ấp Lý Lịch 1, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, Đặng Tiến Đ không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô biển số 59P1-911.91 lưu thông không đúng phần đường va chạm xe mô tô biển số 72H1-6501 do ông Kim Văn S điều khiển lưu thông hướng ngược lại gây tai nạn giao thông. Hậu quả làm chết ông Kim Văn S.
Hành vi của bị cáo vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích trên, xét thấy Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố bị cáo Đặng Tiến Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, được đại diện hợp pháp của người bị hại làm đơn bãi nại; Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng của người tham gia giao thông đang lưu thông trên đường. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 136; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Tiến Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Đặng Tiến Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện hợp pháp người bị hại, bà Đặng Thị K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Vĩnh Cửu; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Vĩnh Cửu; - Cơ quan THAHS - Công an huyện Vĩnh Cửu; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Cửu; - Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Cửu; - Các bị cáo; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Thái |