vanban.org

Bản án 94/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 08/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trần Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy đ về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 8 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy đ về tham gia giao thông đường bộ”. Giao bị cáo Trần Văn V cho UBND xã Tâm Mỹ, thành phố Bắc G giám sát, giáo dục trong thời gian thử… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cao V - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy đ về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
HUYỆN L
TỈNH BẮC G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2023/HSST
Ngày 09/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tạ Văn Doanh;

2. Bà Nguyễn Thị Công Mừng.

- Thư ký phiên toà: Ông Diệp Văn Vĩ - Thư ký Toà án nhân dân huyện L Ngạn, tỉnh Bắc G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L Ngạn tham gia phiên toà: Ông Đào Duy Đông, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L Ngạn, tỉnh Bắc G xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự thụ lý số: 35/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023, theo Quyết đ hoãn phiên tòa số 50/2023/HSST- QĐ ngày 28/7/2023 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn V, sinh năm 1977; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu, nơi ở: thôn M, xã T, thành phố Bắc G, tỉnh Bắc G: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tnh: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc X và bà Bùi Thị T; Vợ: Đỗ Thị Th H; Con: Con: Có 2 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại “có mặt”.

2. Hoàng Văn Th, sinh năm 1990; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu, nơi ở: thôn Đ, xã S, huyện L, tỉnh Bắc G: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Sán chí; Giới tnh: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn Th và bà Lâm Thị A; Vợ, con chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại “có mặt”.

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn Th: Ông Thân Văn Lợi - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc G “có mặt”.

Bị hại: Bà Lâm Thị A (đã chết).

Đại diện hợp pháp cho bà Lâm Thị A:

Bà Trần Thị L, sinh năm 1938 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn R, xã S, huyện L, tỉnh Bắc G.

Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1961 “vắng mặt”.

Chị Hoàng Thị Th, sinh năm 1988 “vắng mặt”.

Chị Hoàng Thị Niên, sinh năm 1994 “vắng mặt”.

Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1986 “vắng mặt”.

Anh Hoàng Văn Th, sinh năm 1990 “vắng mặt”.

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã S, huyện L Ngạn, tỉnh Bắc G.

Đại diện theo ủy quyền của bà L, ông T, chị Th, chị Niên:

Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1986 “có mặt”.

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã S, huyện L, tỉnh Bắc G.

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan:

Công ty TNHH thương mại và dịch v vận tải Đ.

Đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Th – Chức v: Giám đốc “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn Đ, thị trấn M, huyện V, tỉnh Bắc Ninh.

Người làm chứng:

Chị Trương Thị Đ, sinh năm 1986 “vắng mặt”.

Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1966 “vắng mặt”.

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L Ngạn, tỉnh Bắc G.

Anh Trịnh Công S, sinh năm 1997 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn Xé, xã Th Hải, huyện L Ngạn, tỉnh Bắc G.

Anh Đỗ Hồng G, sinh năm 1988 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn Chũ, huyện L Ngạn, tỉnh Bắc G.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 50 phút, ngày 25/8/2022 tại đoạn đường Km 38+400, quốc lộ 31 thộc địa phận thôn T, xã H, huyện L Ngạn, Trần Văn V điều khiển chiếc xe ô tô nhãn hiệu HAECO, loại xe khách 47 chỗ, màu đỏ - trắng mang biển kiểm soát 99B-017.33 đi theo hướng thành phố Bắc G đi huyện S Động va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, mang biển kiểm soát 98E1-136.47 do Hoàng Văn Th điều khiển chở bà Lâm Thị A, sinh năm 1964 ngồi sau (Th và bà A cùng trú tại thôn Đ, xã S, huyện L Ngạn) đi theo hướng ngược chiều và rẽ sang hướng đường bên tra (hướng vào Bệnh viện đa khoa Bắc Thăng Long) khiến bà Lâm Thị A bị thương phải đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa Bắc Thăng long, huyện L Ngạn và tử vong sau đó, xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng. (BL: 202-250)

Nhận được tin báo Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L Ngạn đã tổ chức khám nghiệm hiện trường theo quy đ.

Hiện trường được xác đ là Km 38+400, đường quốc lộ 31, thộc địa phận thôn T, xã H, huyện L Ngạn, tỉnh Bắc G. Đoạn đường được trải nhựa thẳng, phẳng rộng 06m, giao nhau với đường nhánh rộng 8,5m bên phải theo chiều Bắc G đi S Động. Trên đường có vạch s màu vàng đứt đoạn, hai đầu hiện trường nơi xảy ra tai nạn có biển báo giao thông giao nhau với đường nhánh.

- Ở vị trí lề đường bên phải, tại Km 37+650 đường Quốc lộ 31, hướng Bắc G đi S Động có 01 (một) biển báo khu vực đông dân cư. Từ vị trí biển báo khu vực đông dân cư trên đến hiện trường chưa có biển báo hết khu đông dân cư.

- Điểm mốc được xác đ là cột điện nằm trên lề hành lang bên phải theo chiều Bắc G đi S Động. Điểm mốc cách mép đường bên phải theo chiều Bắc G đi S Động là 11m.

- Lấy mép đường bên phải theo chiều Bắc G đi S Động làm mép đường chuẩn.

- Cách điểm mốc 21,87m là vị trí tâm trục trước bên phải của xe ô tô 99B-017.33, cách tâm trục sau bên phải xe ô tô 99B-017.33 là 17,2m.

- Cách tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô 99B-017.33 (2,55)m là vị trí đầu vết cầy xước được ký hiệu là số (1). Vết số (1) có kích thước (4,9m)x(02)cm, đầu vết số (1) cách mép chẩn 55cm, cuối vết số (1) là vị trí đầu mặt ngoài để chân trước bên tra xe mô tô 98E1-136.47.

- Cách vị trí số (1) hướng mép đường chuẩn 40cm là vị trí đầu vết cày xước được ký hiệu số (2) có kích thước (5m)x(1,5cm). Đầu (2) cách mép đường chuẩn 15cm. Cuối vết số (2) là vị trí mặt ngoài bên tra chân chống chính xe mô tô 98E1-136.47.

- Mặt ngoài lốp xe ô tô phía trước bên phải cách mép đường chuẩn 1,2m. Mặt lăn hàng bánh phía sau bên phải hàng lốp trong cùng song song tiếp giáp bờ lề mặt mép đường chuẩn.

- Tâm trục bánh trước xe ô tô 99B-017.33 cách tâm trục bánh trước xe mô tô 98E1-136.47 là 2,4m; xe mô tô ở trạng tha đổ nghiêng tra, xi nhan bên tra đang ở trạng tha hoạt động nhấp nháy đèn, đầu xe hướng về mép đường chuẩn.

- Vị trí xe mô tô 98E1-136.47 được ký hiệu là số (4), vị trí xe mô tô nằm tại góc gầm xe ô tô 99B-017.33 bên phải tiếp giáp bám dính phần ba đờ sốc xe ô tô.

- Tại vị trí góc ba đờ sốc xe ô tô bị nứt vỡ bật rời các mối liên kết trên diện (1x0,55)m, điểm thấp nhất cách mặt đất 36cm, vị trí được ký hiệu là số (5).

- Cách vị trí tâm trục trước xe mô tô 98E1-136.47 (2,7)m là vị trí đám chất màu nâu đỏ và 02 mũ bảo hiểm, 01 kính thời trang, vị trí được ký hiệu là số (6), có kích thước (1,5m)x(70cm). Tâm số (6) cách tâm trục bánh sau xe mô tô là 3,2m, cách mép đường chuẩn 2,4m.

- Trục trước xe mô tô cách mép chuẩn 1,7m, tâm trục bánh sau xe mô tô cách mép đường chuẩn 54cm.

- Cách tâm trục bánh trước xe mô tô 1,85m là vị trí gương thời trang xe mô tô, vị trí được ký hiệu là số (7), điểm gần nhất vị trí số (7) cách tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô 99B-017.33 (1,9m). Tâm (7) cách mép chuẩn 2,7m.

- Tại vị trí gầm xe bên tra phía dưới vị trí ghế la trên bề mặt đường nhựa có 01 chiếc dép lê màu trắng, vị trí được ký hiệu là số (3), điểm gần nhất cách tâm trục bánh trước bên tra xe ô tô 99B-017.33 là 70cm, điểm gần nhất vết số (3) cách mép chuẩn là 1,1m.

- Cách tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô 99B-017.33 (27,6)m theo chiều S Động đi Bắc G là vị trí đầu vết trượt màu đen, vị trí được ký hiệu số (8). Vị trí có kích thước (27m)x(40cm). Điểm gần nhất đầu vết số (8) cách mép đường chuẩn 38cm, cách điểm mốc 19m.

- Đầu vết số (8) hướng S Động đi Bắc G 44,8m là vị trí biển báo giao thông (giao nhau với đường nhánh). Biển báo giao thông nằm trên lề đường bên phải chiều Bắc G đi S Động.

- Điểm gần nhất đầu vết số (8) hướng tâm đường 1,3m là vị trí đầu vết trượt màu đen, vị trí được ký hiệu số (9), đầu số (9) điểm gần nhất cách mép đường chuẩn 2,3m.

- Cuối vị trí số (8) là bề mặt lăn hàng lốp phía sau bên phải xe ô tô 99B-017.33. Cuối vết số (9) là vị trí mặt lăn hàng lốp phía sau bên tra xe ô tô 99B-017.33.

Ngày 25/8/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L Ngạn tiến hành khám nghiệm tử thi, xác đ: Tử thi là bà Lâm Thị A, sinh năm 1964, trú tại thôn Đ, xã S, huyện L Ngạn, tỉnh Bắc G.

- Vùng đầu tóc đen, để dài.

- Hai mắt khép kín, bầm tm xung quanh hốc mắt hai bên.

- Lỗ tai tra khô, lỗ tai phải, hai lỗ mũi và khoang miệng có máu, không đông chảy từ trong ra.

- Đuôi mắt phải, lối tiếp cung mày phải có vết thương rách da được khâu bằng 05 mũi chỉ dài 03cm.

- Sưng nề toàn bộ vùng tha dương và trán phải.

- Sờ nắn thấy lõm một phần xương trán phải.

- Mặt mu bàn tay phải có vết xây xước da (1,5x0,6)cm.

- Mặt trong 1/3 dưới đùi phải và gối phải có vết bầm tm da kích thước (10x11)cm.

- Sờ nắn thấy sai khớp gối phải.

- Mặt ngoài cổ chân tra có vết xây xước da (1,2x0,5)cm.

- Vùng mông hai bên có nhiều vết xây xước da bầm tm.

- Cắt chỉ kiểm tra vết thương vùng đuôi mắt phải thấy sập, vỡ xương hộp sọ vùng trán và trần hốc mắt phải, kích thước (5x0,8)cm (phần đo được) qua đó có nhiều máu không đông chảy ra.

Ngày 03/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L Ngạn tiến hành khám phương tiện liên quan đến v tai nạn giao thông, gồm:

Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, biển kiểm soát 98E1-136.47

- Gương chiếu hậu bên tra bị gãy bật rời, cày xước trên diện (17x4,5)cm.

- Tay la bên tra bị gãy, gập từ trên xuống dưới theo chiều từ trước ra sau.

- Ốp nhựa đầu xe mặt đèn pha bên tra bị mài xước trên diện (20x18)cm.

- Cánh yếm, mặt đèn xi nhan bên tra bị mài xước trên diện (21x2)cm.

- Cánh yếm bên tra bị cày xước trên diện (44x19)cm.

- Chắn bùn bánh trước bị cày xước trên diện (12x9)cm.

- Cần số có 03 vết cày xước kích thước (4x2)cm, (3x2)cm và (4x2)cm.

- Lốc máy bên tra có 01 vết cày xước kích thước (4x1)cm.

- Giá để chân phía trước bên tra bị cong từ trên xuống dưới từ ngoài vào trong có 01 vết cày xước kích thước (7x1,5)cm.

- Chân chống phụ có 01 vết cày xước kích thước (4x1,5)cm.

- Ốp nhựa sườn xe có vết cày xước vỡ nhựa kích thước (68x16)cm.

- Khung sườn xe bên tra có 01 vết cày xước kích thước (13x30)cm.

- Giá để chân sau bên tra có 01 vết cày xước kích thước (3x0,3)cm.

- Ốc giảm xóc sau bên tra có vết cày xước kích thước (1x1)cm.

- Tay xách phía sau bên tra bị gãy, kích thước (5x4)cm, có 01 vết cày xước kích thước (9x4)cm.

- Ốp ống xả có 02 vết cày xước bám dính chất màu đỏ dạng s kích thước (9x5)cm và (7x2)cm.

- Giá để chân sau bên phải có vết bám dính chất màu đỏ dạng s kích thước (7x0,5)cm.

- Ốp nhựa sườn xe bên phải có vết bám dính chất màu đỏ dạng s kích thước (4x2)cm và (7x1)cm.

- Lốc máy bên phải có 03 vết cày xước kích thước (5x2)cm, (2x1)cm và (2x1)cm; 01 vết vỡ kích thước (5x2)cm.

- Giá để chân phía trước bên phải có vết dính chất màu đỏ dạng s kích thước (5x1)cm.

- Ốp nhựa sườn xe bên phải có vết cày xước kích thước (7x4)cm.

- Cánh yếm bên phải bị bật rời, cày xước kích thước (6x3)cm.

- Ốp đèn pha bên phải bị mài xước kích thước (15x10)cm.

- Đầu tay nắm phải bị bật rời, mài xước kích thước (3x2)cm.

- Mặt đồng hồ xe bị mài xước kích thước (12x5)cm.

- Cần khởi động xe bị cong từ ngoài vào trong.

- Cánh yếm bên phải bị mài sát s nhựa đề can màu đen bám dính chất màu đỏ hướng từ trước ra sau trên diện (10x10)cm, điểm thấp nhất cách đất 36cm.

- Ốp nhựa gắn cánh yếm phải có vết cày xước nhựa bám dính chất màu đỏ kích thước (7x3)cm, điểm thấp nhất cách đất 23cm.

- Mặt ngoài cần phanh có vết mài sát kim loại bám dính chất màu đỏ từ trước ra sau từ trên xuống dưới kích thước (17x2)cm, điểm thấp nhất cách đất 20cm.

- Hệ thống điều khiển, đèn, còi, phanh xe còn hiệu lực.

Xe ô tô khách nhãn hiệu Haeco, loại xe khách 47 chỗ, biển kiểm soát 99B-017.33

- Đầu xe bên phụ có vết trượt xước kích thước (9x9)cm.

- Ốp đèn pha bên phải có vết trượt xước bám dính chất màu đen kích thước (15x5)cm.

- Cản gió phía trước bên phải có vết bám dính chất màu đen kích thước (3x1,5)cm.

- Phía dưới ốp đèn pha bên phải bị vỡ kích thước 08cm.

- Ốp đèn ở vị trí ba đờ sốc có 01 vết xước kích thước 12cm.

- Phía dưới ốp đèn ba đờ sốc có 02 vết nứt vỡ kích thước 5,5cm và 02cm.

- Ba đờ sốc bên phải dưới ốp đèn bị vỡ, trầy xước, bám dính chất màu đen có kích thước (36x12)cm.

- Ba đờ sốc bên phải bị vỡ, bám dính chất màu đen kích thước (32x22)cm.

- Phía dưới biển số xe phía trước có 02 vết vỡ nhựa kích thước 7,5cm và 9cm.

- Có 01 vết bám dính chất màu đen tại ba đờ sốc kích thước (2x1)cm.

- Ốp viền mặt ca lăng bị vỡ kích thước 35cm.

- Đầu ngoài ba đờ sốc phải có vết nứt vỡ, mài sát nhựa kích thước (2x2,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 34cm.

- Ba đờ sốc phía trước bên phải vị trí cách đất 31cm, cách ốp kim loại bảo vệ đèn pha 32cm có vết nứt vỡ mài xước nhựa trên diện (23x17)cm, hướng từ trước ra sau, từ tra sang phải.

- Đầu ngoài th kim loại gầm xe bên phải vị trí tiếp giáp gầm xe và cửa xe bên phải có vết mài sát kim loại trên diện (30x35)cm, điểm thấp nhất cách đất 30cm.

Ngày 25/8/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L Ngạn ra Quyết đ trưng cầu giám đ số 256/QĐ-CSĐT giám định nguyên nhân chết của bà Lâm Thị A. Tại Kết luận giám đ số 1706/KL-KTHS, ngày 23/9/2022 của Phòng Kỹ thật hình sự Công an tỉnh Bắc G kết luận: “Nguyên nhân chết của bà Lâm Thị A do chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp sọ vùng trán và trần hốc mắt phải”.

Ngày 06/9/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L Ngạn ra Quyết đ trưng cầu giám đ số 270/QĐ-CSĐT giám định mẫu nghi máu th tại hiện trường. Tại Kết luận giám đ số 1602/KL-KTHS, ngày 13/9/2022 của Phòng Kỹ thật hình sự Công an tỉnh Bắc G kết luận: Mẫu th tại hiện trường được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “MAU6”, gửi giám đ có máu người, nhóm máu O.

Ngày 09/9/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L Ngạn ra Quyết đ trưng cầu giám đ cơ chế hình thành dấu vết trên hiện trường, vị trí va chạm trên mặt đường, tốc độ, cơ chế hình thành dấu vết và vị trí va chạm trên xe ô tô biển kiểm soát 99B-017.33; xe mô tô biển kiểm soát 98E1-136.47. Tại Kết luận giám đ số 1790/KL-KTHS, ngày 08/10/2022 của Phòng kỹ thật hình sự Công an tỉnh Bắc G kết luận:

1. Dấu vết nứt vỡ nhựa, bám dính chất màu đen tại bên phải ba đờ sốc trước, bên phải ốp nhựa đầu xe ô tô biển kiểm soát 99B-017.33, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 8, 9, 10 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp dấu vết mài sát s nhựa, kim loại, bám dính chất màu đỏ tại cánh yếm phải, bên phải ốp nhựa sườn xe, ốp kim loại bảo vệ ống xả của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-136.47, có chiều hướng từ trước ra sau, từ phải sang tra (ảnh số 21, 24, 33 bản ảnh khám phương tiện).

Dấu vết nứt vỡ, mài sát s nhựa, bám dính chất màu đen tại bên phải ba đờ sốc trước của xe ô tô biển kiểm soát 99B-017.33, chiều hướng từ trước ra sau, từ tra sang phải (ảnh số 14, 15 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát cao su, kim loại bám dính chất màu đỏ tại để chân trước, để chân sau bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-136.47, có chiều hướng từ phải sang tra (ảnh số 22, 23 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).

2. Dấu vết cày xước ký hiệu số 1, số 2 phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98E1-136.47 đổ nghiêng tra, bị đẩy rê trượt trên mặt đường và lề đường tạo nên.

3. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 99B-017.33 và xe mô tô biển kiểm soát 98E1-136.47 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 1, số 2 (được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường), thộc chiều chuyển động bên phải theo hướng Bắc G đi S Động.

4. Chiều hướng di chuyển: Tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô biển kiểm soát 99B-017.33 chuyển động thẳng va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98E1-136.47 ở phía trước, đầu xe hướng sang bên phải theo hướng chuyển động của xe ô tô biển kiểm soát 99B-017.33.

5. Không xác đ được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua các dấu vết cơ học.

Ngày 21/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L Ngạn Quyết đ trưng cầu giám đ tốc độ của xe ô tô biển kiểm soát 99B-017.33 tại thời điểm trước khi xảy ra tai nạn. Tại Kết luận giám đ số 6360/KL-KTHS, ngày 15/11/2022 của Phòng kỹ thật hình sự Công an tỉnh Bắc G đã kết luận :

- Không xác đ tốc độ của xe ô tô mang biển kiểm soát 99B-017.33 tại thời điểm xảy ra va chạm.

- Không xác đ được tại thời điểm trước khi xảy ra va chạm, tốc độ của xe ô tô mang biển kiểm soát 99B-017.33 có chiều hướng tăng hay giảm. (BL : 93 ; 96)

Ngày 21/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L Ngạn ra Yêu cầu đ giá tài sản số 137; 138 đối với thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 99B-017.33; xe mô tô biển kiểm soát 98E1-136.47. Tại Bản kết luận đ giá tài sản số 135/KL-HĐĐGTS ngày 23/9/2022 và số 136/KL-HĐĐGTS ngày 26/9/2022 của Hội đồng đ giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L Ngạn kết luận: Thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 99B-017.33 là: 5.700.000 đồng; Thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-136.47 là: 3.310.000 đồng.

Nguyên nhân dẫn đến v tai nạn nêu trên là do Trần Văn V điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 99B-017.33 chạy với tốc độ không phù hợp để đảm bảo an toàn giao thông trong khu vực ông dân cư và có điểm giao tiếp (Bệnh viện); không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, vi phạm quy đ tại Khoản 3 Điều 4 và Khoản 1 Điều 5, Thông tư 31/2019/TT-BGTVT, ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải. Hoàng Văn Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98E1-136.47 chở mẹ là bà Lâm Thị Ái không tập trung quan sát, chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn, vi phạm quy đ tại Khoản 2 Điều 15, Luật Giao thông đường bộ. dẫn đến gây tai nạn, hậu quả gây nên ca chết cho anh Lâm Thị Ái.

Điều 4 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT, ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về Nguyên tắc chấp hành quy đ về tốc độ và khoảng cách khi điều khiển phương tiện trên đường bộ.

“3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải điều khiển xe chạy với tốc độ phù hợp điều kiện của cầu, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn giao thông.”

Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT, ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về Các trường hợp phải giảm tốc độ.

“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;

………………………………………………………………………..………

5. Qua khu vực có trường học, bệnh viện, bến xe, công trình công cộng tập trung nhiều người; khu vực đông dân cư, nhà máy, công sở tập trung bên đường; khu vực đang thi công trên đường bộ; hiện trường xảy ra tai nạn giao thông;”

Khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định về Chuyển hướng xe:

“2. Trong khi chuyển hướng, người la xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.”.

Về vật chứng của v án: Ngày 13/9/2022; 17/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L Ngạn đã ra Quyết đ xử lý vật chứng số 67; 14 trả lại các đồ vật, tài sản cho các chủ sở hữu hợp pháp gồm: Trả cho chị Trần Thị Thúy sinh năm 1986, trú tại thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 01 xe ô tô ô tô biển kiểm soát 99B-017.33; trả lại cho Hoàng Văn Th 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98E1-136.47. Các vật chứng còn lại gồm 01 giấy phép lái xe hạng E, số 240113242395 mang tên Trần Văn Vụ; 01 giấy phép lái xe, số AR 457939 mang tên Hoàng Văn Th được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện L Ngạn để xử lý theo quy định.

Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo Trần Văn V, Hoàng Văn Th đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, các bị cáo không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng cũng như bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện L Ngạn.

Tại phiên tòa đại diện hợp pháp bị hại xác nhận đã nhận tiền bồi thường của bị cáo Trần Văn V 130.000.000 đồng; nhận bồi thường của bị cáo Hoàng Văn Th 20 triệu đồng. Anh Hoàng Văn Đ diện hợp pháp của người bị hại đã nhận đủ số tiền trên, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu tách nhiệm hình sự cho hai bị cáo.

Bản cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 16/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L Ngạn, tỉnh Bắc G đã truy tố các bị cáo về tội “Vi phạm quy đ về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L Ngạn thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn V và bị cáo Hoàng Văn Th từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm sáu tháng đến ba năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy đ về tham gia giao thông đường bộ”. Về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết. Ngoài ra còn đề xuất về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn Th trình bày quan điểm: Nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng; đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy đ tại Điều 54 Bộ luật hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ như sau:

Về tnh hợp pháp của các hành vi, quyết đ tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Về hành vi, quyết đ tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L Ngạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết đ của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác đ có tội của các bị cáo:

Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L Ngạn, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 08 giờ 50 phút, ngày 25/8/2022 tại Km 38+400, quốc lộ 31 thộc địa phận thôn T, xã H, huyện L Ngạn, Trần Văn V, sinh năm 1977, trú tại thôn Miễu, xã Tân Mỹ, thành phố Bắc G, tỉnh Bắc G điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HAECO, loại xe khách 47 chỗ, màu đỏ - trắng biển kiểm soát 99B-017.33 hướng Bắc G đi S Động đã va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, biển kiểm soát 98E1-136.47 do Hoàng Văn Th điều khiển chở bà Lâm Thị A ngồi phía sau đi theo hướng ngược chiều và xi nhan rẽ sang trái đường chiều đi để vào Bệnh viện đa khoa Bắc Thăng Long, khiến bà Lâm Thị A bị thương nặng, dẫn đến tử vong do chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp sọ vùng trán và trần hốc mắt phải. Hành vi của bị cáo Trần Văn Vũ vi phạm quy đ tại Khoản 3 Điều 4 và Khoản 1 Điều 5, Thông tư 31/2019/TT-BGTVT, ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải; Hoàng Văn Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98E1-136.47 chở mẹ là bà Lâm Thị Ái không tập trung quan sát, chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn, vi phạm quy đ tại Khoản 2 Điều 15, Luật Giao thông đường bộ. dẫn đến gây tai nạn, hậu quả gây nên ca chết cho anh Lâm Thị Ái. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ. Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy đ về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện L Ngạn đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

Đánh giá tnh chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội đều đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Do đó các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ tại điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tnh chất mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử lý nghiêm theo quy đ của pháp luật.Tuy nhiên các bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung và theo đúng quy đ tại Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, xét mức hình phạt đề nghị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện bị hại đã thỏa thận bồi thường dân sự xong nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Cần trả lại cho các bị cáo giấy phép la xe đã th giữ theo đúng quy đ tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm; Bị cáo Hoàng Văn Th được miễn án phí hình sự sơ thẩm do thộc trường hợp người dân tộc sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn theo quy đ tại Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và có quyền kháng cáo theo theo quy đ của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy đ về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 8 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy đ về tham gia giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo Trần Văn V cho UBND xã Tâm Mỹ, thành phố Bắc G giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Hoàng Văn Th cho UBND xã S, huyện L Ngạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy đ của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa v theo quy đ của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết đ buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Trần Văn V 01 giấy phép lái xe hạng E, số 240113242395 mang tên Trần Văn Vụ;

Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn Th 01 giấy phép lái xe, số AR 457939 mang tên Hoàng Văn Th.

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn V phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn Th.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ