vanban.org

Bản án 94/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 25/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Nguyễn Quang S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Võ Nguyễn Quang S 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 28/11/2022). Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vo nguyen Quang S-Mua ban trai phep chat ma tuy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Nguyễn Quang S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2023/HS-ST
Ngày 25/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Nam

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Minh Thư.

2. Bà Đinh Thị Thanh Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi và điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an thành phố Quảng Ngãi. Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi tổ chức phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Võ Nguyễn Quang S, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2003 tại Quảng Ngãi; nơi thường trú: Thôn A, xã N, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn L và bà Nguyễn Thị Kim Y; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Quảng Ngãi, có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1964; địa chỉ: số 46 H, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Thành H, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt

3. Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1978; địa chỉ: số 39 H, tổ 5, phường T, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10/2022, thông qua bạn bè giới thiệu, Võ Nguyễn Quang S đã quen biết với một người nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) có bán ma túy, S đã lưu số điện thoại 0967524452 của người này trong danh bạ điện thoại của mình với tên “BONG BÓNG”. Trong thời gian này, đối tượng “BONG BÓNG” nói S bán ma túy giúp, khi bán được sẽ cho tiền nhưng S sợ nên chưa đồng ý.

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 28/11/2022, Võ Nguyễn Quang S đang ngồi uống nước trước cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi thì đối tượng “BONG BÓNG” gọi điện thoại cho S qua ứng dụng Zalo (tài khoản Zalo của S là “Con Chim non”, tài khoản Zalo của “BONG BÓNG” cũng mang tên “BONG BÓNG”) và nói S đến cột điện phía bên phải cổng sau Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi lấy 01 (một) gói giấy bạc, bên trong có 01 (một) túi ni lông màu trắng chứa 06 (sáu) viên ma túy “kẹo”, 01 (một) túi ma túy “múi” và 01 (một) điện thoại di động Nokia màu xanh, đối tượng “BONG BÓNG” để sẵn; mang đến hẻm số 135 N, thành phố Quảng Ngãi bán cho một người (không rõ nhân thân, lai lịch) có số điện thoại 0926091159 đã được lưu sẵn trong điện thoại Nokia màu xanh và lấy số tiền 4.000.000 đồng. Khi bán ma túy xong thì mang tiền và điện thoại để lại vị trí cũ, S giữ lại số tiền 500.000 đồng là tiền công, S đồng ý. Sau đó, S điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 76M1- 124.91 đến vị trí “BONG BÓNG” đã nói trước đó, lấy ma túy và điện thoại, rồi tiếp tục đi đến hẻm 135 N, thành phố Quảng Ngãi. Khi đến nơi, S lấy điện thoại Nokia màu xanh mà “BONG BÓNG” chuẩn bị sẵn, liên lạc cho người có số điện thoại 0926091159 nhưng chưa kịp bán ma túy thì bị Công an tỉnh Quảng Ngãi phát hiện, mời về trụ sở Công an phường Nghĩa Lộ làm việc.

Tại Công an phường Nghĩa Lộ, Võ Nguyễn Quang S đã tự nguyện giao nộp: 01 (một) gói giấy bạc bên trong có chứa 01 (một) túi ni lông màu trắng chứa 06 (sáu) viên nén màu cam không rõ hình dạng, 01 (một) túi ni lông màu trắng chứa chất rắn màu trắng (S khai nhận là ma túy “kẹo” và “múi”) và một số đồ vật, tài liệu khác có liên quan.

Tại Kết luận giám định số 1098/KL-KTHS ngày 02/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận:

- 06 (sáu) viên nén màu cam không rõ hình dạng bên trong phong bì gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu: 2,97 gam.

- Chất rắn bên trong phong bì gửi giám định là ma túy; loại Ketamine; khối lượng mẫu: 1,93 gam.

Bản cáo trạng số 93/CT-VKS, ngày 18/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Võ Nguyễn Quang S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Võ Nguyễn Quang S từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Bị cáo Võ Nguyễn Quang S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố, tuy nhiên bị cáo cho rằng mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là cao, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không có lý do nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra. Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự các văn bản tố tụng cho những người này. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Võ Nguyễn Quang S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 28/11/2022, tại hẻm 135 đường Nguyễn Đình Chiểu, tổ 5, phường Nghĩa Lộ, thành phố Quảng Ngãi; Võ Nguyễn Quang S đang cất giấu trong người 2,97 gam ma túy loại Methamphetamine và 1,93 gam ma túy loại Ketamine nhằm mục đích bán cho một đối tượng sử dụng số điện thoại 0926091159 (không rõ nhân thân lai lịch); trên đường đi bán cho đối tượng thì bị Công an tỉnh Quảng Ngãi bắt quả tang. Tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự quy định tính tổng khối lượng các chất ma túy Mehtmaphetamine và Ketamine so với mức tối thiểu của từng chất quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là: (2,97 gam/5 gam x 100%) + (1,93 gam/20 gam x 100%) = 69,05% < 100% nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Võ Nguyễn Quang S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo Võ Nguyễn Quang S nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội nên cần phải được xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Võ Nguyễn Quang S không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Võ Nguyễn Quang S đã thành khẩn khai báo, bị cáo có bà nội tên Đào Thị B có công cách mạng được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với người sử dụng số điện thoại 0967524452, Võ Nguyễn Quang S lưu trong danh bạ điện thoại với tên “BONG BÓNG” và người mua ma túy sử dụng số điện thoại 0926091159. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh; tuy nhiên chưa xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này. Do đó, khi có đủ cơ sở, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với Nguyễn Thành H: Ngày 28/11/2022, Nguyễn Thành H cho Võ Nguyễn Quang S mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số 76M1-124.91, nhưng H không biết S sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thành H.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 2,90 gam ma túy, loại Methamphetamine; 1,85 gamma túy, loại Ketamine (mẫu còn lại sau giám định) và 01 mảnh giấy bạc.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Nokia, màu xanh, có số Imei: 357678106695317, bên trong có gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số: 8984048000905215640 và 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu vàng, có số Imei: 356716087021672, bên trong có gắn 01 thẻ sim Mobifone có dãy số: 8401201133072978.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số 76M1-124.91 của bà Nguyễn Thị Bích L; bà L sử dụng xe mô tô trên để kinh doanh cho thuê. Anh Nguyễn Thanh H thuê chiếc xe trên theo hợp đồng ngày 02/11/2022. Tại Hợp đồng thuê xe thể hiện bên cho thuê là Nguyễn Thị Bích L, bên thuê là Nguyễn Thành H (Hợp đồng thể hiện ông Nguyễn Minh C là đại diện cho mượn xe). Võ Nguyễn Quang S hỏi mượn Nguyễn Thành H xe mô tô này để sử dụng. Quá trình điều tra đã xác định được chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Bích L và đã xác định khi bị cáo S sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội thì chủ sở hữu không biết. Quá trình điều tra cần phải làm việc và trả ngay cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Bích L để bảo đảm quyền lợi cho bà L theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tuy nhiên, vật chứng trên đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi nên việc xử lý vật chứng thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy phải trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số 76M1-124.91 cho bà Nguyễn Thị Bích L.

Về dân sự: Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Minh C về việc yêu cầu ông Nguyễn Thành H phải có trách nhiệm trả tiền thuê xe cho ông. Hội đồng xét xử xét thấy đây là giao dịch dân sự không liên quan đến vụ án. Trường hợp các đương sự có tranh chấp về hợp đồng thuê xe thì làm thủ tục khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác.

Đề nghị của Kiểm sát viên về phần hình phạt, về xử lý vật chứng là phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Võ Nguyễn Quang S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Võ Nguyễn Quang S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Võ Nguyễn Quang S 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 28/11/2022).

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 2,90 gam mẫu ma túy, loại Methamphetamine; 1,85 gam mẫu ma túy, loại Ketamine cùng vỏ bao gói niêm phong gửi giám định được niêm phong trong cùng một phong bì số 1098/KTHS(GĐ-2022), trên giáp lai có hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ngãi; 01 mảnh giấy bạc.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Nokia, màu xanh, bên trong có gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số: 8984048000905215640 và 01 (một) điện thoại di động Iphone màu vàng, bên trong có gắn 01 thẻ sim Mobifone có dãy số: 8401201133072978. Tất cả mẫu vật đựng trong một phong bì giấy dán kín, bên ngoài đóng hình dấu niêm phong của Phòng ký thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ngãi.

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Bích L chiếc xe mô tô xe nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số 76M1-124.91; số khung: RLHJF5811GY338693, số máy: JF66E-0338720.

Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/5/2023.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Võ Nguyễn Quang S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Cỡ chữ