- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo Lý Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lý Văn B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự năm Bộ luật hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2023/HS-ST Ngày: 14-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Viết Tuấn
2. Bà Đặng Thị Huê
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái - Thư ký Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Khuê - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 8 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2023/TLHS ngày 19/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2023/QĐXXST-HS ngày 30/6/2023 đối với bị cáo:
Lý Văn B, giới tính: N; sinh năm 1995 tại Sóc Trăng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: không có nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: 03/12; con ông Lý Văn H và bà Nguyễn Thị Ư; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2023 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Tuấn P, sinh năm 1986; địa chỉ: I T, Phường D, Quận H, Tp . (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 12/03/2023, Tổ tuần tra Công an P1, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra đến đối diện số D đường C, phường D, Quận H phát hiện một nam thanh niên đang điều khiển xe mô tô biển số 59M1-963.81 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, nam thanh niên khai tên Lý Văn B. Qua kiểm tra Công an tạm giữ trong túi quần Jean phía trước bên phải Biết đang mặc 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (Biết khai là ma túy tổng hợp “hàng đá” mua về để sử dụng). Ngoài ma túy, Công an còn tạm giữ của Biết 01 điện thoại di động và 01 xe mô tô biển số 59M1-963.81. Sau đó, Công an tiến hành dẫn giải Biết và đưa tang vật về trụ sở Công an Phường 4 Quận H tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Theo bản kết luận giám định số 2333/KL-KTHS ngày 21/3/2023 của Phòng K Công an T1 kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lý Văn B và hình dấu Công an phường P1, Quận H là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1219g (không phẩy một hai một chín gam), loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 Thành phố T1, Lý Văn B khai nhận: Bản thân bị cáo nghiện ma túy, vào khoảng 17 giờ ngày 12/03/2023, B điều khiển xe mô tô biển số 59M1-963.81 đến khu vực “Chuồng dê” trên đường C, phường D, Quận H gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy tổng hợp “hàng đá” về mục đích để sử dụng. Người phụ nữ đồng ý bán, nhận tiền và đưa cho B 01 gói nylon chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, B cất giấu gói ma túy vào trong túi quần Jean phía trước bên phải của B đang mặc và điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, khi Biết điều khiển xe đến đối diện số D đường C, phường D, Quận H thì bị Tổ tuần tra Công an P1, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt giữ như nêu trên.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
01 gói niêm phong ghi số 522/23 chứa ma túy.
01 điện thoại di động “Samsung” Lý Văn B dùng liên lạc cá nhân.
01 xe mô tô biển số 59M1-963.81, bị cáo khai mua xe của một người đàn ông tên T (không rõ lai lịch) tại khu vực Quận H với giá 9.000.000 đồng, không làm thủ tục sang tên theo quy định, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, qua xác minh xe do Phạm Tuấn P, sinh năm 1986, thường trú số I đường T, Phường D, Quận H đứng tên chủ sở hữu. Vào tháng 4/2021, ông P bán xe mô tô cho một người phụ nữ tên Q (không rõ lai lịch) nhưng không làm thủ tục sang tên. Ngày 22/5/2023, Cơ quan điều tra có Công văn đề nghị đăng báo tìm chủ sở hữu xe mô tô trên nhưng chưa có kết quả.
Tại bản Cáo trạng số 123/CT-VKS-Q8 ngày 12/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ma túy, trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động “S”, tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số: 59M1-963.81.
Bị cáo khai báo về hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ Kết luận giám định số 2333/KL-KTHS ngày 21/03/2023 của Phòng K Công an Thành phố T1, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa xét có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 17 giờ 15 phút, ngày 12/03/2023, tại đối diện số D đường C, phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, Lý Văn B lưu giữ trái phép 0,1219 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, tội phạm về ma túy gây tác hại lớn cho con người và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục, răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, do vậy Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Bị cáo phạm tội không nhằm thu lợi bất chính, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Biết, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T1 không có cơ sở để xử lý, nên không xét.
Xử lý vật chứng:
- 01 (một) gói niêm phong ma túy ghi số 522/23 bên ngoài có chữ ký ghi tên Lý Văn B và hình dấu Công an P1, Quận H, các chữ ký tên cán bộ điều tra Nguyễn Huy L và Giám định viên Trần Đình H1, là vật cấm lưu hành theo quy định, nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen, gắn sim số 1: 0786650223, sim số 2: 0779525051, số IMEI 1: 353544563759620, số IMEI 2: 353914473759624 thu giữ của bị cáo, điện thoại này bị cáo dùng liên lạc cá nhân, không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo.
- 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, màu xanh đen, loại xe: 02 bánh từ 50-175cm3, dung tích xi lanh: 97, biển số: 59M1-963.81 số khung: RLHHC12078Y026587, số máy: HC12E0052756, đăng ký lần đầu ngày 28/12/2007, biển số cũ: 54P67065, đăng ký mới 26/3/2021 do ông Phạm Tuấn P đứng tên chủ sở hữu, tháng 4/2021 ông P bán xe mô tô cho 01 người phụ nữ tên Q (không rõ lai lịch) nhưng không làm thủ tục sang tên. Bị cáo khai mua chiếc xe này của một người đàn ông tên T (không rõ lai lịch) tại khu vực Quận H với giá 9.000.000 đồng, không làm thủ tục sang tên theo quy định, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội. Ngày 22/5/2023, Cơ quan điều tra có Công văn đề nghị đăng báo tìm chủ sở hữu xe mô tô trên nhưng chưa có kết quả, nên tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 30 ngày để tìm chủ sở hữu hợp pháp, hết thời hạn mà không xác định được chủ sở hữu thì giao cho Ủy ban nhân dân Quận H2 xử lý theo quy định về tài sản vắng chủ.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Lý Văn B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2023
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
2.1. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi số 522/23 bên ngoài có chữ ký ghi tên Lý Văn B và hình dấu Công an P1, Quận H, các chữ ký ghi tên cán bộ điều tra Nguyễn Huy L và Giám định viên Trần Đình H1.
2.2. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen, gắn sim số 1: 0786650223, sim số 2: 0779525051, số IMEI 1: 353544563759620, số IMEI 2: 353914473759624.
2.3 Thông báo trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ xe hợp pháp đối với xe gắn máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, màu xanh đen, loại xe: 02 bánh từ 50-175cm3, dung tích xi lanh: 97, biển số: 59M1-963.81 số khung: RLHHC12078Y026587, số máy: HC12E0052756, đăng ký lần đầu ngày 28/12/2007, biển số cũ: 54P67065, đăng ký mới 26/3/2021, quá hạn thông báo mà chưa tìm được chủ xe thì giao cho Ủy ban nhân dân Quận H2 xử lý theo quy định về tài sản vắng chủ.
(Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/6/2023)
3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Như Hoa |