- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phéo chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội để sung vào ngân sách nhà nước, cụ thể: Bị cáo C phải nộp lại 1.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2023/HS-ST Ngày 30-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Kiên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Mão;
Bà Lý Thị Thiên Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2023/TLST-HS, ngày 02 tháng 6 năm 2023, theo Q định đưa vụ án ra xét xử số 124/2023/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 6 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Đỗ Tiến C, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1995 tại Hải Phòng; ĐKNKTT: Số 84/275, đường Tr, phường Ng, quận L, thành phố H; trú tại: Xóm 5, thôn V, xã A, huyện A, thành phố H; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tiến Th (đã chết) và bà Đỗ Kim D; có vợ là Hồ Thảo L (chưa đăng ký kết hôn), sinh năm 2000; có một con sinh năm 2016; tiền án: Bản án số 140/2017/HSST, ngày 21-11-2017 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 215/2012/HSST, ngày 28-12-2012 Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ từ ngày 27-9-2022, tạm giam từ ngày 05-10-2022; có mặt.
2. Nguyễn Chiến Q, sinh ngày 03 tháng 5 năm 1995 tại Hải Phòng; ĐKNKTT: Số 8B/22/31, đường Tr, phường K, quận L, thành phố H; trú tại: Xóm 5, thôn V, xã A, huyện A, thành phố H; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Bùi Thị Ng; chưa có vợ con; tiền án: Bản án số 44/2020/HSST, ngày 14-8-2020 Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 156/2014/HSST ngày 24-10-2014 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí Q1 dụng”; bị tạm giữ từ ngày 28-9-2022, tạm giam từ ngày 05-10-2022; có mặt.
3. Hồ Thảo L, sinh ngày 05 tháng 02 năm 2000 tại Hải Phòng; ĐKNKTT: Số 15, tổ Đ, phường Q, quận H, thành phố H; trú tại: Xóm 5, thôn V, xã A, huyện A, thành phố H; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Vĩnh T và bà Nguyễn Thị N; có chồng là Đỗ Tiến C (chưa đăng ký kết hôn), có hai con: Con lớn sinh năm 2016 (con chung với Đỗ Tiến C), con nhỏ sinh năm 2021 (con chung với Vũ Hồng Q); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 27-9-2022, tạm giam từ ngày 05-10-2022; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Phạm Văn Ch; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 30 phút ngày 27-9-2022, tại khu vực trước cửa quán D, số 53, đường L, phường L, quận N, tổ công tác thuộc Công an quận Ngô Quyền bắt quả tang Đỗ Tiến C và Hồ Thảo L đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: Thu của Đỗ Tiến C một xe ôtô nhãn hiệu Kia Morning màu trắng, BKS 15A- 355.91; một điện thoại Iphone 12 Pro max; một điện thoại Nokia màu đen; thu tại hốc cánh cửa phía ghế phụ xe ô tô một gói kích thước 4x7 cm, trong chứa 10 viên nén hình tròn màu xám (niêm phong mẫu số 1), một gói nilon kích thước 6x9 cm, trong đó một gói kích thước 2x2 cm chứa tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu số 2); thu trên tay của L một gói kích thước 4x7 cm, bên trong có một gói nilon kích thước 2x2 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu số 3) và bốn viên nén màu xanh có in logo Rolex (niêm phong mẫu số 4) và một điện thoại Iphone 11 màu trắng. Qua đấu tranh C và L khai đó là ma túy mua được của Nguyễn Chiến Q để mang đi bán cho khách.
Ngày 28-9-2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận Ngô Quyền thực hiện Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Chiến Q, thu giữ của Q một điện thoại Iphone 11 Pro max màu xanh và một điện thoại Nokia màu trắng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của C, L và Q tại địa chỉ: Xóm 5, thôn V, xã A, huyện A, Hải Phòng, thu giữ tại cạnh cột đối diện nhà vệ sinh tầng một gói nilon kích thước 8x13 cm, trong có một gói kích thước 4x6cm bên trong chứa ba viên nén màu xanh (niêm phong mẫu số 5) và một gói kích thước 4x6cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu số 6); năm vỏ gói nilon kích thước khoảng 2x2cm và năm vỏ gói nilon kích thước khoảng 4x6cm.
Tại Kết luận giám định số 503/KL-KTHS (MT) ngày 30-9-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Các viên nén màu xanh của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,90 gam, là loại MDMA. Tinh thể màu trắng của mẫu số 2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,83 gam, là loại Ketamine. Tinh thể màu trắng của mẫu số 3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,79 gam, là loại Ketamine. 04 viên nén màu xanh của mẫu số 4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 1,67 gam, là loại MDMA. 03 viên nén màu xanh của mẫu số 5 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,28 gam, là loại MDMA. Tinh thể màu trắng của mẫu số 6 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 6,06 gam, là loại Ketamine.
Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận: Đỗ Tiến C và Hồ Thảo L có mối quan hệ tình cảm với nhau, cả hai trước đó đã có một con chung. Từ khoảng tháng 9-2022, C và L thuê nhà của anh Phạm Khắc C, sinh năm 1996 để ăn ở sinh hoạt như vợ chồng tại địa chỉ: Xóm 5, thôn V, xã A, huyện A, Hải Phòng. Cùng thời gian này, Nguyễn Chiến Q là bạn quen xã hội của C đến ở cùng C và L. Q ở tầng 3, còn L và C ở tầng 2 của căn nhà. Do không có việc làm nên Q nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại kiếm lời. Quá trình sinh sống, Q có nói chuyện với L và C về việc Q bán ma túy gồm Ketamine và thuốc lắc, nếu có nhu cầu sử dụng hay bán lại thì liên hệ với Q và được C, L đồng ý.
Qua mối quan hệ xã hội, Q đã hai lần gặp và mua của một đối tượng nam giới tên Q1 (thường gọi là Q1 “hạo”, hiện không rõ lai lịch và địa chỉ cụ thể) ma túy Ketamine và thuốc lắc để về bán kiếm lời.
Lần thứ nhất: Khoảng ngày 08-9-2022, Q mua của Q1 1.400.000 đồng ma túy Ketamine và 2 viên thuốc lắc với giá 150.000 đồng/viên. Sau đó, Q bán lại cho Đỗ Tiến C một gói ma túy Ketamine với giá 800.000 đồng và hai viên thuốc lắc với giá 180.000 đồng/viên để C sử dụng cá nhân, được tổng số tiền là 1.160.000 đồng. C đã chuyển trả tiền mua ma túy vào tài khoản số 351995666 mở tại ngân hàng VIB của Q. Số ma túy Ketamine còn lại Q đã tự sử dụng hết.
Lần thứ hai: Khoảng 17 giờ, ngày 24-9-2022, Q đến khu vực cổng chợ Vĩnh Khê, An Đồng, An Dương, Hải Phòng gặp và mua của Q1 21.000.000 đồng ma túy Ketamine và 40 viên thuốc lắc với giá 150.000 đồng/viên. Q chuyển khoản trả tiền mua Ketamine vào tài khoản số 0266999956789 mở tại ngân hàng MBBank, chủ tài khoản tên “Nguyen Thu Nh” do Q1 cung cấp cho Q, còn lại tiền mua thuốc lắc, Q hẹn khi nào bán hết sẽ trả cho Q1 sau.
Sau khi mua được ma túy, Q mang về phòng trọ chia Ketamine vào các gói nilon khác nhau, dự định sẽ chia được khoảng 30 gói, mỗi gói bán với giá từ 800.000 đồng đến 1.100.000 đồng/gói (ước lượng mỗi gói khoảng 01 gam ma túy Ketamine). Số ma túy là thuốc lắc Q dự định bán với giá 180.000 đồng đến 250.000 đồng/viên. Nếu bán hết, Q sẽ hưởng lợi từ 3.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng tiền ma túy Ketamine và từ 1.200.000 đồng đến 4.000.000 đồng tiền thuốc lắc. Số ma túy trên, Q đã bán được cho những người sau:
Ngày 25-9-2022, tại nhà trọ, Q đã bán cho Đỗ Tiến C 1.600.000 đồng ma túy Ketamine (Q ước lượng khoảng 02 gam) và năm viên thuốc lắc với giá 180.000 đồng/viên, được tổng số tiền là 2.500.000 đồng. Sau đó, C đã bán lại cho một thanh niên tên H (C không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 2.000.000 đồng Ketamine và 200.000 đồng/ viên thuốc lắc, được tổng số tiền là 3.000.000 đồng, hưởng lợi 500.000 đồng.
Tối ngày 26-9-2022 Q bán cho L 1.600.000 đồng tiền ma túy Ketamine và sáu viên thuốc lắc, với giá 180.000 đồng/viên, được tổng số tiền là 2.680.000 đồng. Sau đó, L đã bán số ma túy này cho một người tên M ở khu vực Cát Bi, Hải An, Hải Phòng được số tiền 4.500.000 đồng, được hưởng lợi 1.820.000 đồng.
Ngày 27-9-2022 tại khu vực Cầu Rào 1, Q bán cho một người tên H (hiện chưa xác M được lai lịch, địa chỉ) một gói ma túy Ketamine (Q ước lượng khoảng 01 gam) với giá 1.100.000 đồng, H sử dụng số tài khoản 0386538588 mở tại Ngân hàng MB, chủ tài khoản tên “Ngo Tien Hiep” chuyển khoản cho Q số tiền là 1.100.000 đồng.
Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 27-9-2022 khi C và L đang ở phòng trọ thì L nhận được điện thoại của một người phụ nữ không quen biết hỏi mua một gam ma túy Ketamine và bốn viên thuốc lắc. L báo giá 1.100.000 đồng/01 gam Ketamine và 250.000 đồng/viên thuốc lắc. Người này đồng ý và hẹn đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày gặp nhau ở trước cửa số nhà 53, Lạch Tray, Ngô Quyền, Hải Phòng để giao dịch. Lúc này, L bảo C: “Anh lên gặp Q lấy bốn viên thuốc lắc và một gam ma túy Ketamine để lát em mang đi giao cho khách”. C một mình lên tầng 3 gặp Q, nói: “Anh lấy cho em 10 gam Ketamine và 17 viên thuốc lắc”. Q báo giá 800.000 đồng/1 gam Ketamine và 180.000 đồng/viên thuốc lắc. C đồng ý và hẹn khi nào bán hết ma túy sẽ gửi trả tiền. Q đưa cho C một túi nilon chứa ma túy Ketamine và một túi nilon chứa 17 viên thuốc lắc.
Mua được ma túy, C mang xuống tầng 1 của nhà trọ, chia ma túy Ketamine vào 05 gói gồm: Một gói kích thước 4x6cm và bốn gói kích thước mỗi gói 2x2cm; chia thuốc lắc làm ba gói gồm: Một gói kích thước 4x6cm chứa ba viên, một gói kích thước 4x7cm chứa bốn viên và một gói kích thước 4x7cm chứa 10 viên thuốc lắc. C cho một gói Ketamine 4x6 cm và một gói chứa ba viên thuốc lắc vào chung một gói kích thước 8x13cm rồi cất giấu ở cạnh cột đối diện nhà vệ sinh tầng một, mục đích nếu có khách sẽ bán dần. Sau đó, C mang lên phòng ngủ tầng 2 đưa cho L một gói chứa bốn viên thuốc lắc và một gói kích thước 2x2cm chứa Ketamine. Còn lại một gói chứa 10 viên thuốc lắc và ba gói 2x2cm chứa Ketamine C cất giấu trong người, mục đích để có khách hỏi sẽ bán kiếm lời.
Sau khi bán ma túy cho C, Q nhận được điện thoại của hai người khách tên Th và K (Q không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể). Th hỏi mua của Q 12 viên thuốc lắc còn K hỏi mua 13 gam ma túy Ketamine, Q đồng ý báo giá 250.000 đồng/viên thuốc lắc và 800.000 đồng/1 gam Ketamine, hẹn 21 giờ cùng ngày gặp nhau để giao dịch. Thống nhất xong, Q cho 13 viên thuốc lắc vào một túi nilon và gói toàn bộ ma túy Ketamine còn lại cho vào một túi khác cầm theo.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, C, Q và L cùng lên ôtô nhãn hiệu Kia Morning màu trắng, BKS 15A-355.91 đi ăn tối với nhau. Lúc này, Q đưa cho C một gói nilon trong chứa Ketamine nhờ C lát mang đến phố Đinh Nhu, Lê Chân, Hải Phòng bán cho K, tiền bán ma túy Q sẽ lấy sau. C đồng ý cất gói ma túy trong hốc xe ôtô. Q điều khiển xe đến khu vực đường Kỳ Đồng gặp và bán cho Th 12 viên thuốc lắc với giá 250.000 đồng/viên, được tổng số tiền là 3.000.000 đồng. Sau đó, cả bọn đi đến đường Võ Nguyên Giáp ngồi ăn tối.
Ngồi ăn một lúc thì Q đi về, còn C lấy ôtô chở L. Trên đường đi, do có khách hỏi mua ma túy nên C điều khiển xe đến khu vực đường Đông Khê, gặp và bán cho một người phụ nữ tên M (hiện chưa xác định được lai lịch) một gói Ketamine với giá 1.300.000 đồng. M sử dụng tài khoản số 106867694552 mở tại Ngân hàng Viettin, chủ tài khoản mang tên “Vu Thi H” chuyển tiền cho C. Sau đó, C đến khu vực đường Đằng Hải bán cho một đối tượng tên H (hiện chưa xác định được lai lịch) một gói Ketamine với giá 1.000.000 đồng. H dùng tài khoản số 0329183892 mở tại Ngân hàng MB, chủ tài khoản mang tên “Tran Hai D” chuyển trả tiền cho C.
Tiếp đó, C điều khiển xe đi đến khu vực đường Đinh Nhu, Lê Chân giao gói ma túy cho K hộ Q. Sau khi giao ma túy cho K xong, C tiếp tục điều khiển xe chở L đi đến khu vực số nhà 53, đường Lạch Tray để bán ma túy cho khách của L thì bị bắt quả tang.
Lời khai nhận tội nêu trên của Nguyễn Chiến Q phù hợp lời khai của Đỗ Tiến C và Hồ Thảo L, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ và kết luận giám định.
Ngoài ra, các đối tượng còn khai: Khi mua ma túy của Q1 và bán lại cho C và L cũng như các khách khác, Q chỉ ước lượng chứ không cân cụ thể lượng ma túy nên không rõ chính xác số lượng ma túy là bao nhiêu. Tổng số ma túy Q mua được của Q1 ngày 08-9-2022 và 24-9-2022, Q cũng lấy ra một ít Ketamine để tự sử dụng một mình cho bản thân, còn lại bán hết như đã nêu trên. Tối ngày 27-9-2022, khi Q và C mang ma túy bán cho khách, ngoài việc Q nhờ C giao cho Kiên thì Q, C và L không bàn bạc gì với nhau. L chỉ ngồi cùng xe ôtô chứ không giúp sức gì C và Q. Đối với những người mua ma túy, C, L và Q chỉ biết họ và liên lạc qua điện thoại, chuyển tiền qua các tài khoản ngân hàng như đã cung cấp cho Cơ quan điều tra. Các đối tượng không biết chủ các số điện thoại và chủ tài khoản ngân hàng có biết và liên quan gì đến việc mua bán ma túy hay không.
Về vật chứng: Một bì giấy niêm phong số 503MT/PC09, bên trong chứa ma túy và vỏ bao gói của các mẫu vật còn lại sau giám định; 05 vỏ gói nilon kích thước khoảng 2x2cm, 05 vỏ gói nilon kích thước khoảng 4x6cm; 05 điện thoại di động đã qua sử dụng gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu trắng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền.
Cáo trạng số 86/CT-VKSNQ, ngày 31-5-2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã truy tố bị cáo Đỗ Tiến C về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo các điểm b, p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Chiến Q về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo các điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Hồ Thảo L về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo Đỗ Tiến C, Nguyễn Chiến Q và Hồ Thảo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã truy tố. Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Đỗ Tiến C, Nguyễn Chiến Q và Hồ Thảo L như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm b, p, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đỗ Tiến C từ 11 đến 12 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27-9-2022.
- Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Chiến Q từ 11 đến 12 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28-9-2022.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Thảo L từ 08 đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27-9-2022.
Miễn phạt tiền là hình phạt bổ sung và buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội để sung vào ngân sách nhà nước, cụ thể: Bị cáo C phải nộp lại 1.200.000 đồng; bị cáo Q phải nộp lại 3.200.000 đồng và bị cáo L phải nộp lại 1.820.000 đồng.
- Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong trong bì giấy có dấu niêm phong số 503MT/PC09; 05 vỏ gói nilon kích thước khoảng 2x2cm và 05 vỏ gói nilon kích thước khoảng 4x6cm.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu xanh.
- Trả lại bị cáo Đỗ tiến C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Q định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, Q định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nhận định các tình tiết của vụ án:
Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được chứng M bởi Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an quận Ngô Quyền lập hồi 22 giờ 45 phút, ngày 27-9-2022, nên đã có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Đỗ Tiến C có hành vi năm lần bán trái phép chất ma túy cho người khác. Trong đó hai lần bán cho đối tượng tên H vào ngày 25-9-2022 và 27-9-2022 và một lần bán cho đối tượng tên M vào ngày 27-9-2022. Ngoài ra ngày 27-9-2022 bị cáo C còn có hành vi giúp sức cho bị cáo Nguyễn Chiến Q bán trái phép chất ma túy cho đối tượng tên Kiên và có hành vi giúp sức cho bị cáo L trong việc mang ma túy đi bán cho người khác thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền mà bị cáo C thu lợi bất chính từ việc phạm tội nêu trên là 1.200.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Chiến Q đã bẩy lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác. Trong đó ba lần bán cho Đỗ Tiến C vào các ngày 08-9-2022, 25-9-2022 và 27-9-2022; một lần bán cho bị cáo Hồ Thảo L vào ngày 26-9-2022, một lần bán ma túy cho đối tượng tên H, một lần bán ma túy cho đối tượng tên Kiên và một lần bán ma túy cho đối tượng tên Thảo vào ngày 27-9-2022. Tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội là 3.200.000 đồng. Lượng ma túy các bị cáo C và Q phải chịu trách nhiệm hình sự là 6,85 gam MDMA và 7,68 gam Ketamine. Tổng tỉ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA và Ketamine so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là: 22,83% + 7,68% = 30,51%, thuộc trường hợp dưới 100%.
Bị cáo Hồ Thảo L đã hai lần bán trái phép chất ma túy cho người khác, trong đó ngày 26-9-2022 mua ma túy của Nguyễn Chiến Q và bán lại cho đối tượng tên M. Đến ngày 27-9-2022 bị cáo mang ma túy đi bán cho người khác thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội là 1.820.000 đồng. Lượng ma túy bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự là 1,67 gam MDMA và 0,79 gam Ketamine.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Chiến Q, Đỗ Tiến C và Hồ Thảo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.
- Về tính tiết định khung hình phạt:
Các bị cáo Nguyễn Chiến Q, Đỗ Tiến C và Hồ Thảo L đã nhiều lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác nên đều phải chịu tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Nguyễn Chiến Q và Đỗ Tiến C đã nhiều lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác là chất MDMA và chất Ketamine nên đều phải chịu tình tiết tăng nặng định khung hình phạt theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Hồ Thảo L đã mua bán trái phép 1,67 gam MDMA và 0,79 gam Ketamine (ít hơn mức tối thiểu quy đinh tại điểm i và điểm n của khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự) nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng định khung hình phạt theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra bị cáo Đỗ Tiến C đã có một tiền án về tội rất nghiêm trọng chưa được xóa án. Lần này bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng nên còn phải chịu thêm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Do vậy Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Đỗ Tiến C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Chiến Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Hồ Thảo L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên cần áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo C và L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo Q đã có một tiền án chưa được xóa án (Bản án số 44/2020/HSST, ngày 14-8-2020 Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”) nên lần phạm tội này phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về vai trò của các bị cáo trong vụ án và áp dụng hình phạt:
Vụ án có đồng phạm, do đó cần phân hóa vai trò của các bị cáo để có căn cứ áp dụng hình phạt cho tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và vai trò của từng bị cáo.
Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Chiến Q là người trực tiếp mua ma túy của đối tượng tên Q1 để bán lại cho bị cáo C ba lần; bị cáo L một lần và ba lần khác cho các đối tương tên H, Thảo và Kiên. Do vậy vai trò của bị cáo là cao nhất trong vụ án. Bị cáo Đỗ Tiến C là người trực tiếp bán trái phép chất ma túy ba lần; giúp sức cho bị cáo Q bán trái phép chất ma túy cho đối tượng tên Kiên và giúp sức cho bị cáo L mang bán ma túy cho người khác thì bị bắt quả tang. Do vậy bị cáo C có vai trò thấp hơn bị cáo Q nhưng bị cáo phải chịu nhiều tình tiết định khung hình phạt hơn bị cáo Q nên hình phạt áp dụng đối với bị cáo C phải cao hơn so với bị cáo Q. Bị cáo L chỉ bán ma túy cho người khác hai lần nên vai trò, tính chất và mức độ hành vi của bị cáo là thấp nhất và hình phạt áp dụng đối với bị cáo cũng là thấp nhất.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét các bị cáo là người không có việc làm và thu nhập ổn định, không xác định được các bị cáo có tài sản riêng nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng của vụ án, cụ thể:
Lượng ma túy thu được của các bị cáo còn lại sau khi giám định được niêm phong trong một bì giấy niêm phong số 503MT/PC09, bên trong chứa ma túy và vỏ bao gói của các mẫu vật còn lại sau giám định; 05 vỏ gói nilon kích thước khoảng 2x2cm và 05 vỏ gói nilon kích thước khoảng 4x6cm. Đây là những vật các bị cáo sử dụng cho việc mua bán trái phép chất ma túy và lượng ma túy mà bị cáo đã mua và cất giữ để bán trái phép cho người khác, là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với các điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu xanh (thu của Đỗ Tiến C), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng (thu của Hồ Thảo L), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu trắng (thu của Nguyễn Chiến Q) qua điều tra đã xác định là tài sản riêng của các bị cáo được sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Trả lại bị cáo Đỗ Tiến C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, do không liên quan đến việc phạm tội.
Thông qua việc mua bán trái phép chất ma túy các bị cáo đã được hưởng lợi bất chính, cụ thể: Bị cáo C thu được 1.200.000 đồng; bị cáo Q thu được 3.200.000 đồng và bị cáo L thu được 1.820.000 đồng. Do vậy cần buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền trên để sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với đối tượng tên “Q1 hạo” là người đã bán ma túy cho Q hiện chưa xác M được lai lịch. Đối với việc Q khai chuyển tiền mua ma túy cho Q1 qua tài khoản “Nguyen Thu Nh” số tài khoản 0266999956789 mở tại Ngân hàng MB, qua xác M chủ tài khoản là Nguyễn Thu Nh, địa chỉ 20/60, đường H, Lê Chân, Hải Phòng. Hiện Nh vắng mặt tại địa phương. Đối với các đối tượng C, L, Q khai là người mua ma túy gồm: M, H, Th, K và M, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác M các số điện thoại và tài khoản ngân hàng liên quan, tiến hành ủy thác điều tra nhưng đều chưa làm rõ được. Do vậy, Cơ quan điều tra đã Q định tách hành vi của các đối tượng nêu trên để tiếp tục xác M làm rõ, có căn cứ xử lý sau.
Đối với anh Phạm Khắc C là chủ nhà cho các bị cáo thuê nhà, do không biết việc Q, C, L cất giấu, mua bán ma túy nên không có căn cứ xử lý.
Đối với chiếc xe ôtô nhãn hiệu Kia Morning màu trắng BKS 15A-355.91 qua xác M thuộc sở hữu của anh Trần Đại Nghĩa T (sinh năm 1991, ĐKHKTT: Tổ 28, phường Ng, quận L, Hải Phòng) là em họ của Đỗ Tiến C. Ngày 27-9-2022 anh T cho C thuê xe để đi lại và không biết việc C sử dụng xe để đi bán ma túy. Ngày 12-10-2022 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh T.
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Q 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo: Đỗ Tiến C, Nguyễn Chiến Q và Hồ Thảo L đều phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
Q ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, p, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đỗ Tiến C 12 (mười hai) năm tù, về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27-9-2022.
Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Chiến Q 11 (mười một) năm tù, về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28-9-2022.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Thảo L 08 (tám) năm tù, về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27-9-2022.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội để sung vào ngân sách nhà nước, cụ thể: Bị cáo C phải nộp lại 1.200.000 đồng; bị cáo Q phải nộp lại 3.200.000 đồng và bị cáo L phải nộp lại 1.820.000 đồng.
- Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong trong bì giấy có dấu niêm phong số 503MT/PC09; 05 vỏ gói nilon kích thước khoảng 2x2cm và 05 vỏ gói nilon kích thước khoảng 4x6cm.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu trắng.
- Trả lại bị cáo Đỗ Tiến C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen.
(Theo Q định chuyển vật chứng số 79/QĐ-VKSNQ ngày 31-5-2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02-6-2023 giữa Công an quận Ngô Quyền và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc các bị cáo: Đỗ Tiến C, Nguyễn Chiến Q và Hồ Thảo L đều phải nộp mỗi bị cáo 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, Q định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - PV 06 Công an TP. Hải Phòng; - Công an quận Ngô Quyền; - VKSND quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Các bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Kiên |