- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn B - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cà Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2023/HS-ST Ngày 15-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Tằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cà Văn Ngọc và ông Quàng Văn Tại.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cà Văn B, tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 22 tháng 11 năm 1992, tại thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản T, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cà Văn X, sinh năm 1965 và bà Cà Thị T, sinh năm 1965; có vợ Cà Thị B, sinh năm 1993 (đã ly hôn); bị cáo có 01 người con sinh năm 2013; tiền án: 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 226/2021/HS-ST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 04 (bốn) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 27/2012/HSST ngày 22/5/2012, đã xóa án tích), chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/02/2023 đến ngày 05/3/2023, tạm giam từ ngày 05/3/2023 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 20 giờ 10 phút, ngày 24 tháng 02 năm 2023 Công an huyện Tuần Giáo phối hợp với tổ công tác theo Kế hoạch 1266 Công an tỉnh Điện Biên làm nhiệm vụ tại khu vực bản Tân Lập, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo, kiểm tra xe khách biển kiểm soát 27F-000.89 chạy tuyến Điện Biên – Mỹ Đình phát hiện, bắt quả tang Cà Văn B đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên phải Cà Văn B đang mặc 01 (một) gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa bột màu trắng dạng cục, nghi ma túy (loại Heroine).
Ngày 24/02/2023 tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định: Bột màu trắng dạng cục thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,06 gam, gửi toàn bộ làm mẫu vật trưng cầu giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 407/KL-KTHS ngày 04/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Cà Văn B gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine, hoàn lại đối tượng giám định 0,005 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Cà Văn B khai nhận: Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 24/02/2023 tại khu vực ngã ba chợ Nà Tấu, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Bị cáo mua được của một người đàn ông dân tộc Thái không biết họ, tên, địa chỉ, khoảng 50 tuổi 01 (một) gói Heroine gói bằng giấy bạc màu vàng với giá 30.000đồng; việc mua bán chỉ có bị cáo và người đàn ông đó, không có ai chứng kiến tham gia cùng. Mua được Heroine bị cáo cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc, đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày bị cáo lên xe ô tô khách biển kiểm soát 27F-000.89 chạy tuyến Điện Biên – Mỹ Đình để xuống thành phố Hà Nội làm công nhân. Đến 20 giờ 10 phút cùng ngày khi xe ô tô khách đi đến bản Tân Lập, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo thì tổ công tác Công an kiểm tra và phát hiện, bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Cáo trạng số: 77/CT-VKSTG ngày 24 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Cà Văn B về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như Cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Cà Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cà Văn B từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,005 gam Heroine còn lại, 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố, không có lời bào chữa, không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 20 giờ 10 phút ngày 24/02/2023, tại bản Tân Lập, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Bị cáo Cà Văn B bị bắt quả tang khi đang cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc của bị cáo 0,06 (không phẩy không sáu) gam Heroine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, kết luận giám định, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Cà Văn B tàng trữ trái phép 0,06 gam Heroine, khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ dưới mức khối lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng do bị cáo có 01 tiền án, bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 20 (hai mươi) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số: 226/2021/HS-ST ngày 27/9/2021, tính đến ngày bị cáo phạm tội mới (ngày 24/02/2023) chưa được xóa án tích nên tiền án này là tình tiết định tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;”
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo là người nghiện ma túy, từng bị xét xử về tội phạm ma túy, nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội; biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hơn nữa ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội vì vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân: Năm 2012 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 57/2012/HSST ngày 22/5/2012, đã xóa án tích). Năm 2021 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đến ngày 05/10/2022 bị cáo chấp hành xong án phạt, tính đến ngày 24/02/2023 bị cáo phạm tội mới chưa được xóa án tích, bị cáo có tiền án. Tuy nhiên tiền án này của bị cáo là tình tiết định tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Do đó bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng, bị cáo là người nghiện ma túy, có tiền án, từng bị xét xử nhiều lần nhưng bị cáo vẫn không chịu tu dưỡng, rèn luyện, sống tuân thủ pháp luật. Căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 của Bộ luật Hình sự và có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời hạn nhất định để giáo dục bị cáo, giúp bị cáo cai nghiện ma túy và răn đe phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.
Đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phạt bổ sung với bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là có căn cứ, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án: Đối với 0,005 gam heroine (vật chứng còn lại, hoàn lại sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng là công cụ dùng vào việc phạm tội; 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của bị cáo là vật không có giá trị. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
Án phí: Bị cáo là người bị kết án. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông không rõ họ, tên, tuổi, địa chỉ, đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 24/02/2023. Do bị cáo không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo không có căn cứ điều tra xác minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cà Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cà Văn B 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2023.
2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong chứa 0,005 (không phẩy không không năm) gam Heroine.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong gồm 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng và 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/5/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Cà Văn B phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Cà Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 15/6/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tuần Giáo; - CQTHAHS – Công an tỉnh Điện Biên; - Công an huyện Tuần Giáo; - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Tằng |