- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Liến - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2023/HS-ST Ngày: 24/7/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Xuân Thu.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Sa; Lò Việt Hưng.
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông La Văn Xôm - Kiểm sát viên.
Ngày 24/7/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2023/TLST-HS, ngày 21/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HS ngày 14/7/2023 đối với bị cáo:
Lò Văn L - Sinh ngày 01/12/1983 tại Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
Nơi cư trú: Bản M, xã Kh O, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn Ch – sinh năm 1965 và bà: Lường Thị Ng – sinh năm 1968; Gia đình có 02 anh, em bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có vợ: Tòng Thị Đ – sinh năm 1982; Bị cáo có 03 con.
Bị cáo có 01 tiền án: Tại bản án số 45 HSST ngày 08 4 2011 của Toà án nhân dân huyện Than Uyên áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 194; điểm o, điểm p, khoản 1, Điều 46; Điều 47- Bộ luật hình sự, xét xử tuyên phạt Lò Văn L 05 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Đến ngày 21 01 2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt t ; hiện bị can chưa được xoá án t ch;
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 17 giờ 00 phút ngày 08/3/2023, tạm giam từ ngày 14/3/2023, hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên.
(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 06/3/2023, Lò Văn L đi bộ từ nhà tại Bản M, xã Kh O, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu sang bản Đ É, xã Ch L, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, mục đ ch tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đến bản Đ É, Lò Văn L mua từ một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroine với giá 1.000.000 đồng. Sau đó, Lò Văn L mang Heroine về nhà tại Bản M, xã Kh O, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu và h ng ngày, Lò Văn L cấu lấy một t trong gói Heroine mua được sử dụng b ng hình thức h t. Đến khoảng 13 giờ ngày 08 3 2023, Lò Văn L lấy gói Heroine ra chia thành 07 gói nh . Còn thừa một t vụn Heroine, Lò Văn L chuẩn bị sử dụng thì bị Công an huyện Than Uyên phát hiện, bắt quả tang hồi 14 giờ 30 phút c ng ngày, tại nhà L Bản M, xã Kh O, huyện Than Uyên. Vật chứng thu giữ của Lò Văn L gồm: 07 gói Heroine, trong đó: 05 gói được gói b ng nilon màu trắng, 02 gói được gói b ng nilon màu hồng và 01 mảnh nilon màu hồng bên trên có chứa t vụn Heroine.
Tại bản kết luận giám định số 27 ngày 08/3 2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 295 ngày 13/3/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn L có tổng khối lượng 0,46 gam, là ma túy, loại: Heroine (Heroin).
Vật chứng của vụ án gồm: 0,46 gam Heroine, đã tr ch gửi giám định 0,11 gam, còn lại 0,35 gam; 03 mảnh nilon màu hồng; 05 mảnh nilon màu trắng; 01 v bì niêm phong ban đầu. Các vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản theo quy định.
Tại bản cáo trạng số: 74/CT –VKS, ngày 21/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Lò Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Than Uyên trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Về hình phạt: Đề nghị HĐXX Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn L từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 0,35 gam Heroine; 01 phong bì Công an huyện Than Uyên bên trong đựng 05mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh ni lon màu hồng, 01 v bì niêm phong ban đầu.
Về án ph : Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Lò Văn L không có ý kiến tranh luận gì đối với quan điểm của vị đại diện Kiểm sát.
Lời nói sau c ng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được sớm trở về với gia đình, xã hội và xin được miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, người chứng kiến c ng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 06/3/2023, tại bản Đ É, xã Ch L, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, Lò Văn L đã mua trái phép 01 gói Heroine từ một người không rõ lai lịch với giá 1.000.000 đồng, mục đ ch để sử dụng. Sau đó, Lò Văn L mang Heroine về nhà chia số Heroine mua được thành nhiều gói nh để sử dụng dần. Đến 14 giờ 30 phút ngày 08/3/2023, tại Bản M, xã Kh O, huyện Than Uyên, Lò Văn L bị Công an huyện Than Uyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ 07 gói Heroine và một t vụn Heroine L chuẩn bị sử dụng) có tổng khối lượng 0,46 gam.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 – Bộ luật hình sự. Nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ pháp luật, mức hình phạt đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định.
Đánh giá t nh chất, mức độ phạm tội: Bị cáo có đủ mọi điều kiện để nhận biết: Heroine là chất ma túy gây nghiện, hủy hoại sức kh e con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nên Nhà nước nghiêm cấm và xử phạt nghiêm khắc đối với ai có một trong những hành vi liên quan đến chất ma túy. Do nghiện chất ma túy ngày 06/3/2023 bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm pháp luật, cố ý thực hiện hành vi mua trái phép 01 gói Heroine với giá 1.000.000đồng, nh m mục đ ch để sử dụng dần cho nhu cầu thấp hèn của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 45 HSST, ngày 08 4 2011 của Toà án nhân dân huyện Than Uyên, xét xử tuyên phạt Lò Văn L 05 năm 06 tháng t về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Đến ngày 21 01 2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt t ; hiện chưa được xoá án tích. Hội đồng xét xử thấy r ng: Trong thời gian chấp hành hình phạt, bị cáo phải nhận biết được sự nghiên khắc của pháp luật, cần từ b chất ma túy, tu dưỡng, rèn luyện mình thành người có ch, nhưng bị cáo không làm vậy, sau khi tái hòa nhập cộng đồng bị cáo lai tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy bị cáo phải chị tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “ Tái phạm” phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn. Song quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện, bị cáo là người dân tộc sống ở v ng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xét giảm phần nào khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt ch nh, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy gia đình bị cáo còn đang khó khăn, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ nghề nghiệp gì, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án gồm: 0,35 gam Heroine; 01 phong bì Công an huyện Than Uyên bên trong đựng 05mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh ni lon màu hồng, 01 v bì niêm phong ban đầu. Xét thấy số vật chứng này là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc Heroine, Lò Văn L khai mua của một người không rõ lai lịch, nên không có căn cứ điều tra xử lý.
Về án ph hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc, sống ở v ng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm, nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106;135;136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn L 02 (hai) năm 06 tháng tù. Thời hạn t được t nh từ ngày 08/3/2023.
3. Về vật chứng:
- Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,35 gam Heroine; 01 phong bì Công an huyện Than Uyên bên trong đựng 05mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh ni lon màu hồng, 01 v bì niêm phong ban đầu.
(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên được lập ngày 22 tháng 6 năm 2023).
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn L.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Than Uyên. - VKSND tỉnh Lai Châu. - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu. - Bị cáo. - CA huyện Than Uyên. - CQTHAHS huyện Than Uyên. - Chi cục THADS huyện Than Uyên. - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣờng Xuân Thu |