- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thạch Thị H - Thạch T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thạch Thị H được ly hôn với anh Thạch Th.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30/6/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Thị Kim Tân.
- Ông Nguyễn Xuân Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Dung – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 211/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 78/2023/QĐHPT-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị H, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Tân Bình, xã Bảo Bình, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Thạch Th, sinh năm 1988(vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp 3A, xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thạch Thị H trình bày:
Chị và anh Thạch Th tự nguyện tìm hiểu yêu thương và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 15/8/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Bảo Bình, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
Theo chị H trình bày cuộc sống chung vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc. Cho đến năm 2019 anh Th thường ăn nhậu, lại nghe lời bạn bè bên ngoài về kiếm chuyện gây gỗ đánh đập chị, anh Th thiếu sự quan tâm đối với gia đình, tình cảm vợ chồng ngày một lạnh nhạt không hạnh phúc và không có sự tôn trọng nhau. Kéo dài đến ngày 15/3/2023 chị bị anh Th đánh đập trước sự chứng kiến của mẹ ruột nên từ đó chị về nhà mẹ ruột sinh sống, chị và anh Th cũng đã nhiều lần gặp nhau hàn gắn nhưng anh Th vẫn không thay đổi. Nay chị nhận thấy tình cảm không còn, khó để hàn gắn đoàn tụ nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Thi.
- Về con chung: Vợ chồng chung sống có 01 con chung là cháu Thạch Thị Hồng P, sinh ngày 06/11/2013. Hiện cháu đang được chị nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Thạch Th đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc. Tuy nhiên, tại biên lấy lời khai ngày 15/5/2023 ông Thạch Ph cha anh Th có khai việc chị Thạch Thị H có đơn xin ly hôn tại Tòa án huyện Xuân Lộc, tòa cứ xét xử theo quy định pháp luật chứ con ông anh Th bận đi làm sẽ không đến Tòa làm việc. Vợ chồng Th và H chung sống có 01 con chung cháu Thạch Thị Hồng P, sinh ngày 06/11/2013 hiện cháu đang ở với mẹ, Th đồng ý để mẹ tiếp tục nuôi dưỡng cháu sau khi vợ chồng ly hôn, Th không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và nợ chung: Theo ông Thạch Ph cha anh Th khai vợ chồng Th, H không có tài sản chung và nợ chung.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật.
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
-Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị H . Chị H được ly hôn với anh Thạch Th.
-Về con chung: Giao cháu Thạch Thị Hồng P, sinh ngày 06/11/2013 cho chị H nuôi dưỡng đến 18 tuổi và có khả năng lao động. Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Th.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Thạch Thị H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt chị Hoa là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Thạch Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến dự phiên Tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án vẫn tiếp tục xét xử vắng mặt anh Th theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị H khởi kiện ly hôn với anh Thạch Th, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Chị Thạch Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn đối với anh Thạch Th. Xét yêu cầu khởi kiện của chị H Hội đồng xét xử nhận định:
Chị và anh Thạch Th tự nguyện tìm hiểu yêu thương và chung sống với với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 15/8/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Bảo Bình, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
Theo chị H trình bày cuộc sống chung vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc. Cho đến năm 2019 anh Th thường ăn nhậu, lại nghe lời bạn bè bên ngoài về kiếm chuyện gây gỗ đánh đập chị, anh Th thiếu sự quan tâm đối với gia đình, tình cảm vợ chồng ngày một lạnh nhạt không hạnh phúc và không có sự tôn trọng nhau. Kéo dài đến ngày 15/3/2023 chị bị anh Th đánh đập trước sự chứng kiến của mẹ ruột nên từ đó chị về nhà mẹ ruột sinh sống, chị và anh Th cũng đã nhiều lần gặp nhau hàn gắn nhưng anh Th vẫn không thay đổi. Nay chị nhận thấy tình cảm không còn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Th.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Thạch Th đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc. Tuy nhiên, tại biên lấy lời khai ngày 15/5/2023 ông Thạch Ph cha anh Th có khai việc chị Thạch Thị H có đơn xin ly hôn tại Tòa án huyện Xuân Lộc, tòa cứ xét xử theo quy định pháp luật chứ con ông anh Th bận đi làm sẽ không đến Tòa làm việc. Vợ chồng Th và H chung sống có 01 con chung cháu Thạch Thị Hồng Ph, sinh ngày 06/11/2013 hiện cháu đang ở với mẹ.
Anh Thạch Th không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của chị H. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H là có cơ sở và cũng phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Về con chung:
Xét thấy hiện cháu Thạch Thị Hồng Ph, sinh ngày 06/11/2013 đang được chị H nuôi dưỡng, chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cháu sau khi vợ chồng ly hôn. Anh Th không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến gì về việc nuôi con. Nghĩ nên tiếp tục giao cháu Ph cho chị H nuôi dưỡng đến 18 tuổi và có khả năng lao động là hợp lý, chị H không yêu cầu anh Th đóng góp phí tổn nuôi con nên không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn anh Th được quyền qua lại, thăm non, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Khi cần thiết chị H, anh Th được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng việc nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: chị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Riêng anh Th không có lời khai về tài sản chung và nợ chung nên cần tách ra giải quyết khi anh có yêu cầu.
Về án phí: áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2006/UBTVQH 14 ngày 30/12/2006 của Uỷ ban thường vụ quốc hội. Chị Thạch Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thạch Thị H được ly hôn với anh Thạch Th.
- Về con chung:
Giao cháu Thạch Thị Hồng Phúc, sinh ngày 06/11/2013 cho chị Thạch Thị H nuôi dưỡng đến 18 tuổi và có khả năng lao động. Chị H không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Sau khi ly hôn anh Thi được quyền qua lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Khi cần thiết anh Th, chị H được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng việc nuôi con.
-Về tài sản chung và nợ chung: chị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Riêng anh Th không có lời khai về tài sản chung và nợ chung nên cần tách ra giải quyết khi anh có yêu cầu.
-Về án phí: áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2006/UBTVQH 14 ngày 30/12/2006 của Uỷ ban thường vụ quốc hội. Chị Thạch Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí chị Hoa đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo biên lai thu số 0007429 ngày 17/3/2023 được tính trừ vào án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đồng Nai;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- VKSND huyện Xuân Lộc;
- Chi cục THADS huyện Xuân Lộc;
- UBND xã nơi ĐKKH;
- Các đương sự;
- Lưu án văn, hồ sơ vụ án.
Huỳnh Thị Kim Phượng
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc; - UBND xã nơi ĐKKH; - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Kim Phượng |