vanban.org

Bản án 94/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hồ Văn Mực và bà Nguyễn Thị Cương.

Về con chung: Anh Hồ Kỳ Phát, sinh ngày 19/10/1998 và chị Hồ Thị Triệu Băng, sinh ngày 25/7/2004, đều đã trưởng thành và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung: Ông Hồ Văn Mực và bà Nguyễn Thị Cương thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hồ Văn Mực và bà Nguyễn Thị Cương.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH LỢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30 – 10 – 2023.
Về việc ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Trang Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Hồng Phượng

2. Bà Trần Thị Phương Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhựt, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Châu Ngọc Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 211/2023/TLST –HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 giữa đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hồ Văn Mực, sinh năm 1970

Địa chỉ: Ấp Xẽo Nhào, xã Hưng Thành, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Cƣơng, sinh năm 1974

Địa chỉ: Ấp Xẽo Nhào, xã Hưng Thành, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

(Ông Mực và bà Cương có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khở i kiê ̣n đề ngày 26/9/2023 và lời khai tại Tòa án nguyên đơn ông Hồ Văn Mực trình bày: Vào năm 1997, ông Hồ Văn Mực và bà Nguyễn Thị Cương tự nguyện chung sống với nhau, không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian sống chung, ông Mực và bà Cương thường mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Từ năm 2017 đến nay, ông Mực và bà Cương không còn sống chung với nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông Mực yêu cầu Tòa án không công nhận với chồng giữa ông Mực và bà Cương.

Về con chung: Ông Mực và bà Cương có 02 người con chung là anh Hồ Kỳ Phát, sinh ngày 19/10/1998 và chị Hồ Thị Triệu Băng, sinh ngày 25/7/2004. Hiện nay, anh Phát và chị Băng đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông Mực và bà Cương có tạo lập tài sản chung là quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất. Do tài sản chung tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Ông Mực và bà Cương không có nên không Tòa án giải quyết.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn bà Nguyễn Thị Cương thống nhất vớ i ông Mực về quan hệ hôn nhân, thời gian chung sống, con chung, tài sản chung, nợ chung.

Về hôn nhân: Do bà Cương và ông Mực đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay và không hàn gắn tình cảm vợ chồng nên bà Cương cũng đồng ý yêu cầu của ông Mực yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Cương với ông Mực.

Về con chung: Do anh Hồ Kỳ Phát và chị Hồ Thị Triệu Băng đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, bà Cương và ông Mực tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu trình bày việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Mực, tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Mực và bà Cương. Về con chung, anh Hồ Kỳ Phát và chị Hồ Thị Triệu Băng đã trưởng thành và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, ông Mực và bà Cương tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung, ông Mực và bà Cương thống nhất không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về án phí sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, ông Mực phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền : Ông Mực nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng giữa ông Mực và bà Cương. Khi khởi kiện, bà Cương trú tại ấp Xẽo Nhào, xã Hưng Thành, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tu ̣ng: Ông Mực và bà Cương đều có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Mực và bà Cương theo quy định khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Ông Mực và bà Cương tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1997, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, là quan hệ hôn nhân không hợp pháp. Tại Đơn xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Hưng Thành ngày 10/10/2023, thể hiện sổ lưu hộ tịch tại Ủy ban nhân dân xã Hưng Thành không có thông tin đăng lý kết hôn của ông Mực và bà Cương. Căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Mực và bà Cương.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông Mực và bà Cương có 02 người con là anh Hồ Kỳ Phát, sinh ngày 19/10/1998 và chị Hồ Thị Triệu Băng, sinh ngày 25/7/2004, hiện anh Hồ Kỳ Phát và chị Hồ Thị Triệu Băng đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, ông Mực và bà Cương đều xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết; nợ chung, ông Mực và bà Cương thống nhất không có, không yêu cầu giải quyết nên không đă ̣t ra xem xét, giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đ

ình: Ông Mực phải chịu 300.000 đồng. Ông Mực đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0003658 ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi được chuyển thu án phí.

Từ những phân tích trên chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hồ Văn Mực và bà Nguyễn Thị Cương.

2. Về con chung: Anh Hồ Kỳ Phát, sinh ngày 19/10/1998 và chị Hồ Thị Triệu Băng, sinh ngày 25/7/2004, đều đã trưởng thành và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Ông Hồ Văn Mực và bà Nguyễn Thị Cương thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

4. Nợ chung: Ông Hồ Văn Mực và bà Nguyễn Thị Cương thống nhất không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đă ̣t ra xem xét

, giải quyết.

5. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình: Ông Hồ Văn Mực phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ông Hồ Văn Mực đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0003658 ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

6. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời gian 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ