vanban.org

Bản án 94/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị H đối với bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 phải có nghĩa vụ trả cho bà Bùi Thị H số tiền vay gốc còn nợ là 62.000.000 đồng (Sáu mươi hai triệu đồng). Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 phải chịu số tiền 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng) án p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vụ án dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị H đối với bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHƯỚC
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2023/DS-ST
Ngày: 30-5-2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Vĩnh Mậu.

2. Ông Phạm Thành Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Hữu Long, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Định - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 205/2022/TLST-DS, ngày 26 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 771/2023/QĐST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị H, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961; địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy uỷ quyền ngày 27 tháng 12 năm 2022); có mặt.

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

2. Bà Trương Thị T1, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 12 năm 2022 của nguyên đơn bà Bùi Thị H; tại lời khai và tại phiên toà hôm nay người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Xuất phát từ quan hệ quen biết với nhau nhiều năm nên vào ngày 17/2/2021 âm lịch, tức ngày 28/3/2021, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 vay của bà Bùi Thị H số tiền 30.000.000 đồng. Đến ngày 17/3/2021 âm lịch, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 vay của bà Bùi Thị H số tiền 20.000.000 đồng. Các lần vay tiền trên các bên thoả thuận lãi suất 02%/tháng, thời hạn vay 03 tháng. Đến ngày 07/6/2021, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 vay của bà Bùi Thị H số tiền 12.000.000 đồng với lãi suất 02%/tháng, thời hạn vay 30 ngày. Khi vay số tiền trên có viết “Bản giao kèo”, “Giấy cam kết” có chữ ký của vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1. Thực hiện các hợp đồng trên, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 đã nhận đủ của bà H số tiền 62.000.000 đồng. Khi đến thời hạn trả nợ, bà H đã đòi nhiều lần nhưng vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 không trả tiền vay gốc và tiền lãi. Tại đơn khởi kiện bà H yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 trả lại cho bà H số tiền vay gốc còn nợ là 92.000.000 đồng, nhưng nay bà H rút một phần yêu cầu khởi kiện, bà H yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 trả lại cho bà H số tiền vay gốc còn nợ là 62.000.000 đồng; bà H không yêu cầu trả tiền lãi. Ngoài ra, bà H không trình bày và không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên toà hôm nay, bị đơn bà Trương Thị T1 vắng mặt nhưng tại lời khai bà Trương Thị T1 trình bày: Bà thừa nhận trong năm 2021, vợ chồng bà có vay của bà Bùi Thị H nhiều lần với số tiền 62.000.000 đồng để chi tiêu trong gia đình. Sau khi vay số tiền trên vợ chồng bà chưa trả tiền vay gốc cho bà H nên bà thừa nhận hiện nay vợ chồng bà còn nợ của bà H số tiền 62.000.000 đồng gốc. Nay bà Bùi Thị H yêu cầu vợ chồng bà có nghĩa vụ trả số tiền 92.000.000 đồng vay gốc thì bà không đồng ý. Bà chỉ đồng ý trả cho bà H số tiền 62.000.000 đồng gốc nhưng vì kinh tế gia đình của bà khó khăn nên bà xin trả dần hàng tháng với số tiền 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ gốc. Ngoài ra bà không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc H1 đã được Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Ngọc H1 vẫn không có mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn bà Bùi Thị H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị H; buộc bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 có nghĩa vụ trả bà Bùi Thị H số tiền 62.000.000 đồng vay gốc còn nợ. Bà Bùi Thị H không yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 trả tiền lãi nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại thời điểm thụ lý vụ án và hiện nay bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 cư trú tại thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Bùi Thị H vắng mặt nhưng có người đại diện hợp pháp tham gia phiên toà; bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự trên.

Về nội dung vụ án: Nguyên đơn bà Bùi Thị H yêu cầu bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 có nghĩa vụ trả số tiền 62.000.000 đồng vay gốc; bị đơn bà Trương Thị T1 thừa nhận vợ chồng bà có vay và hiện nay còn nợ của bà H số tiền 62.000.000 đồng gốc nhưng vì kinh tế gia đình khó khăn nên bà xin trả dần hàng tháng với số tiền 1.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, chứng cứ mà nguyên đơn bà Bùi Thị H cung cấp và Toà án tiến hành thu thập có đủ căn cứ chứng minh vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 vay và hiện nay còn nợ của bà Bùi Thị H số tiền 62.000.000 đồng vay gốc. Ông Nguyễn Ngọc H1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện trên của bà Bùi Thị H nhưng bà Trương Thị T1 thừa nhận khoản nợ trên là nợ chung của vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, buộc bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 có nghĩa vụ trả cho bà Bùi Thị H số tiền 62.000.000 đồng vay gốc. Bà Bùi Thị H không yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 trả tiền lãi nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, buộc bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền trả nợ cho bà Bùi Thị H, cụ thể 62.000.000 đồng x 5% = 3.100.000 đồng. Nguyên đơn bà Bùi Thị H được miễn nộp án phí vì thuộc diện người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các điều 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị H đối với bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

1. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 phải có nghĩa vụ trả cho bà Bùi Thị H số tiền vay gốc còn nợ là 62.000.000 đồng (Sáu mươi hai triệu đồng).

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H1, bà Trương Thị T1 phải chịu số tiền 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 30 tháng 5 năm 2023). Các đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

4. Về quyền và nghĩa vụ thi hành án:

4.1. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ