vanban.org

Bản án 94/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 27/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc Lê Văn B phải bồi thường cho anh Lê Ngọc L số tiền là 8.000.000đ. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của sổ tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B GIANG
TỈNH B GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2022/HS-ST
Ngày 27 tháng 6 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-----------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư và bà Nguyễn Thị Vượng.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B Giang tham gia phiên tòa: Bà Đặng Minh Hà – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 6 năm 2022 tại điểm cầu trụ sở TAND tỉnh B Giang. Tòa án nhân dân thành phố B Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 99/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2022/QĐXXST-HS ngày 14/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố B Giang, tỉnh B Giang đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn B, sinh năm 1994

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Phúc Long, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh B Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề Nệp: Lao động tự do; Văn hóa: 11/12.

Bố: Lê Văn M, sinh năm 1953 (đã chết)

Mẹ: Thân Thị N, sinh năm 1955

Gia đình có ba anh chị em, bị cáo là thứ ba.

Vợ: Trương Thị T, sinh năm 1992

Có 01 con sinh năm 2015.

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 11/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh B Giang xử phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B Giang để chấp hành án phạt tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 11/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên.

(có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại: Anh Lê Ngọc L, sinh năm 1990. (vắng mặt)

Địa chir: Thôn Hoàng Mai 3, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh B Giang.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Khổng Đức T, sinh năm 1979. (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Đồng Quan, xã Đồng Sơn, thành phố B Giang, tỉnh B Giang.

* Người làm chứng:

- Anh Đặng Thành L, sinh năm 1987. (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số nhà 52, đường Tiền Giang, phường Lê Lợi, thành phố B Giang, tỉnh B Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 12/10/2021, Lê Văn B sinh năm 1994 trú tại thôn Phúc Long, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh B Giang đến nhà anh Đặng Thành L, sinh năm 1987 là người quen của B ở số nhà 52, đường Tiền Giang, phường Lê Lợi, thành phố B Giang chơi. Khoảng 30 phút sau, anh Lê Ngọc L, sinh năm 1990 ở thôn Hoàng Mai 3, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên đi chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu đỏ đen, biển kiểm soát 98D1-128.52 đến nhà anh L chơi. Anh L và B quen biết nhau từ trước do có thời gian cùng làm với nhau tại công ty ở huyện Việt Yên. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, B hỏi mượn xe mô tô của anh L để đi về nhà và hẹn đến ngày hôm sau trả xe. Anh L tiếp tục ở lại nhà anh L chơi nên đồng ý cho B mượn xe. Sau khi được anh L cho mượn xe, B điều khiển xe mô tô của L về nhà B nghỉ ngơi, ăn cơm. Khoảng 12 giờ ngày 13/10/2021, anh L gọi điện thoại cho B yêu cầu trả xe thì B hứa hẹn đến 21 giờ cùng ngày sẽ đem xe đến trả xe. Lúc này, B nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô BKS 98D1-128.52 của anh L để đem cầm cố lấy tiền chi tiêu. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, B điều khiển xe mô tô BKS 98D1-128.52 đem đến cầm cố cho Khổng Đức T, sinh năm 1979 ở thôn Đồng Quan, xã Đồng Sơn, thành phố B Giang được 3.500.000 đồng, số tiền trên B đã chi tiêu cá nhân hết. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, anh L tiếp tục gọi điện thoại cho B yêu cầu trả xe thì B thừa nhận đã đem xe đi cắm và hẹn vài ngày sau sẽ trả. Do B không trả lại xe nên anh L làm đơn trình báo.

Kết luận định giá tài sản số 171/KL-HDĐG ngày 25/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B Giang kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu đỏ đen, biển kiểm soát 98D-128.52, số khung 796855, số máy 796880 đăng ký lần đầu năm 2012, đã qua sử dụng có trị giá 8.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Lê Văn B khai nhận thành khẩn hành vi mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98D-128.52 của anh Lê Ngọc L sau đó đem đi cắm cho Khổng Đức T như nêu trên. Đối với ông T khai không nhận cầm cố chiếc xe này của B mà chỉ nhận cầm cố 02 chiếc xe mô tô khác của B đem đến và 2 chiếc xe này đã bị Công an huyện Việt Yên thu giữ. Ông T từ chối đối chất với B và giữ nguyên lời khai.

Anh Khổng Đức Quyết là con trai ông T khai: Vào buổi tối một ngày tháng 10/2021 có một thanh niên đến nhà đặt vấn đề với ông T cầm cố 01 chiếc xe mô tô Sirius màu đỏ đen, ông T nhờ anh Quyết dắt chiếc xe này vào nhà. Sau đó, ông T lấy tiền đưa cho người thanh niên. Do không quen biết và người thanh niên niên đeo khẩu trang nên anh Quyết không thể nhận dạng được.

Ngày 22/11/2022, Cơ quan điều tra cho Lê Văn B nhận dạng ảnh Khổng Đức T. Kết quả B nhận dạng đúng ảnh của T xác định chính là người nhận cầm cố chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98D-128.52 do B đem đến cắm vào ngày 13/10/2021.

Căn cứ kết quả điều tra có đủ căn cứ xác định Lê Văn B đã cắm chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98D-128.52 cho Khổng Đức T để lấy tiền chi tiêu nhưng Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc xe. Cơ quan điều tra kết luận không đủ cơ sở xử lý ông T về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Ngọc L yêu cầu Lê Văn B phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Lê Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 30/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B Giang đã truy tố bị cáo Lê Văn B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; Điều 65; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn B từ 08 đến 10 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự. Tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 11/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh B Giang thành hình phạt chung cho cả hai Bản án từ 22 tháng đến 25 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 03/11/2021.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Anh Lê Ngọc L yêu cầu Lê Văn B phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc Lê Văn B phải bồi thường cho anh Lê Ngọc L số tiền 8.000.000đ theo như giá trị mà hội đồng định giá trong tố tụng hình sự đã định.

Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo Lê Văn B nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng điều tra viên, kiểm sát viên, của cơ quan điều tra Công an thành phố B Giang, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

[3] Về hành vi tội phạm: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, kết quả giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 12/10/2021, Lê Văn B và anh Lê Ngọc L đến nhà Đặng Thành L ở số nhà 52, đường Tiền Giang, phường Lê Lợi, thành phố B Giang chơi. Tại đây, B mượn của anh L chiếc mô tô biển kiểm soát 98D1-128.52 trị giá 8.000.000 đồng đi về nhà, hẹn hôm sau trả xe. Ngày 13/10/2021, B đem chiếc xe mô tô của anh L đi cầm cố được 3.500.000 đồng, sử dụng chi tiêu cá nhân dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B Giang truy tố bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.

[4]. Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 11/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh B Giang xử phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Cần phải tổng hợp hình phạt đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án.

[5]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[6]. Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Anh Lê Ngọc L yêu cầu Lê Văn B phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Nên cần buộc B phải bồi thường cho anh L giá trị chiếc xe mô tô BKS 98D1-128.52 theo như giá trị mà hội đồng định giá đã định là 8.000.000đ.

[8] Xét về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nghề Nệp ổn định, không có điều kiện kinh tế để đảm bảo thi hành án nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9]. Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn B 09 (chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự. Tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 11/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh B Giang thành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 03/11/2021.

2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc Lê Văn B phải bồi thường cho anh Lê Ngọc L số tiền là 8.000.000đ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của sổ tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án phí. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và đân sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ