vanban.org

Bản án 94/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 29/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T và Phan Trần Nguyên V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 02-06-2022 Xử phạt Phan Trần Nguyên V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 26-9-2022 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T và Phan Trần Nguyên V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ GIA NGHĨA
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2022/HS-ST
Ngày: 29-12- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thông;

2. Ông Hoàng Công Hội.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thúy Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 tại tỉnh Bắc Cạn; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn 03, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N(đã chết) và bà Hoàng Thị P (đã chết); chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 395/HSST ngày 13-12-1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 24 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, Bản án số: 06/2002/HSST ngày 30-02-2002 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/HSST ngày 27-8-2008 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/HSST ngày 04-8-2011 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/HSST ngày 27-3-2012 của Tòa án nhân dân huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tổng hợp hình phạt của bản hình sự sơ thẩm số: 56/HSST ngày 04-8-2011 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk; Quyết định số: 02/2020/QĐ-TA ngày 20-02-2020 của Toà án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02-6-2022- Có mặt.

2. Phan Trần Nguyên V, sinh năm 1985 tại tỉnh Quảng Nam; nơi ĐKHKTT: Buôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở trước khi phạm tội: Không cố định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Quang T và bà Trần Thị N (đã chết); từ năm 2012-2015 chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị N (đã chết), chưa có con; tiền án: Tại bản án số 35/2019/HSST ngày 27-8-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị bắt tạm giam từ ngày 26-9-2022- Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 01/6/2022 Phan Trần Nguyên V đến chơi và ngủ lại qua đêm tại phòng trọ của Nguyễn Văn T thuộc thôn 3, xã Đ, huyện Đ. Sáng sớm ngày 02/6/2022 T rủ V đi đến khu làng người dân tộc H’Mông sinh sống, thuộc xã Q, huyện K mua ma túy để sử dụng thì V đồng ý. Vũ điều khiển xe mô tô BKS 92H1- 474.43 chở T và đi theo sự chỉ dẫn của T. T một mình đi bộ vào làng, gặp một người đàn ông (chưa xác định được nhân thân); Thực đưa cho người này 1.000.000đ và người này đưa cho T 04 cục ma túy hê rô in gói trong túi ni lông màu đen.

Trên đường về, khi đi đến khu vực đập hồ thủy điện Buôn T thuộc thôn P, xã Q; T bảo V dừng xe để sử dụng ma tuý. Khoảng 05 phút sau, T tỉnh dậy thấy V đang nằm phê ma túy, T một mình đi bộ lên vị trí dừng xe máy, lấy một mảnh nilong màu tím của áo mưa có sẵn trong cốp xe, gói số ma túy còn lại rồi nhét vào hậu môn để cất giấu. V chở T đi về TP. G thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đăk Nông bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 109–KLMT/PC54, ngày 11/6/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông kết luận, chất chứa trong mẫu niêm phong gửi giám định đều là ma túy Hêrôin, tổng khối lượng là 3,4106 gam, hoàn trả sau giám định 3,2383 gam.

Bản kết luận giám định số 252/KL-KTHS ngày 29/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông, kết luận xe mô tô nhãn hiệu Sirius, gắn BKS 92H1-474.43, có số khung nguyên thủy là RLCS5C640CY788609, số máy nguyên thủy là 5C64-788561. Biển kiểm soát số 92H1- 474.43 không phải do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 91/CTr-VKS-GN ngày 14-11-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đã truy tố Nguyễn Văn T và Phan Trần Nguyên V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn T từ 03 năm 06 tháng – 03 năm 09 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Phan Trần Nguyễn V từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định;

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Sirius (gắn BKS 92H1- 474.43), hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, căn cứ Điều 228 Bộ luật Dân sự, cần tiếp tục tạm giữ chiếc xe này; sau thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực mà việc thông báo công khai vẫn không xác định được ai là chủ sở hữu thì tịch thu bán sung công quỹ nhà nước.

Tại phiên tòa, các bị cáo không trình bày lời bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Ngày 02-6-2022, Phan Trần Nguyên V điều khiển xe mô tô mang BKS 92H1-474.43 chở Nguyễn Văn T đi đến xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông để mua ma túy về sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút, cùng ngày khi V và T đi đến địa phận Tổ 05, phường N, thành phố G thì bị lực lượng Công an khám xét và thu giữ trên người 3,4106g heroin cất dấu trong hậu môn của Nguyễn Văn T.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

. . .

c) Hêrôin … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

Xét thấy hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân xấu, đã 05 lần bị Tòa án kết án, trong đó có 03 lần phạm tội về ma túy; 01 lần bị Toà án ra quyết định áp dụng biện phát xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học để làm người công dân tốt mà vẫn tiếp tục phạm tội. Bị cáo Phan Trần Nguyên V phạm tội khi còn tiền án. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo nhằm giáo dục, răn đe các bị cáo, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phan Trần Nguyên V phạm tội khi chưa được xóa án tích bản án số: 35/2019/HSST ngày 27-8-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, do đó phải bị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập và tài sản nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với số ma túy còn lại sau giám định là 3,2383g Hêrôin là vật cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.

Giao cho Công an thành phố Gia nghĩa, tỉnh Đăk Nông xác minh làm rõ chủ sở hữu hợp pháp chiếc môtô BKS 92H1-474.43 và xử lý theo quy định pháp luật.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ cần chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T và Phan Trần Nguyên V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 02-06-2022

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Phan Trần Nguyên V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 26-9-2022

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 228 của Bộ luật Dân sự.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại là 3,2383g Hêrôin sau giám định

Thông báo tìm chủ sở hữu chiếc xe môtô Biển kiểm soát 92H1-474.43 trong thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo mà không xác định được ai là chủ sở hữu thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.

(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23-11-2022 giữa Công an thành phố Gia Nghĩa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T và Phan Trần Nguyên V mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ