vanban.org

Bản án 94/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Tuyên án 23/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b và s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên bố: bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Phạm Đình T 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/12/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đình T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b và s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TL
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2022/HS-ST
Ngày: 23 - 12 - 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Trần Văn Cảnh;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Quách Xuân Luyện và bà Lê Thị Hà.

- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Thế Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL tham gia phiên toà: ông Nguyễn T Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

- Phạm Đình T - sinh năm 1979; nơi cư trú: số nhà 12, ngõ 10, đường TA, phường Tt, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình S và bà Nguyễn Thị Hồng T; có vợ là Đinh Thị M và 01 con sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo được tại ngoại, hiện đang thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: ông Nhữ Tiến V - sinh năm 1958;

- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: anh Nhữ Văn S - sinh năm 1992 (con trai của bị hại); nơi cư trú: thôn K, xã TN, huyện TL, tỉnh Hà Nam, vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Nguyễn Lan P - sinh năm 1969; nơi cư trú: xóm 2, xã HT, huyện KS, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.

- Người làm chứng: anh Nguyễn Văn T - sinh năm 1982, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 24/6/2022, Phạm Đình T có giấy phép lái xe hạng E do Sở Giao thông vận tải tỉnh Ninh Bình cấp ngày 11/6/2019 có giá trị đến ngày 11/6/2024, điều khiển xe ô tô BKS 35B - 017.34 (xe mượn của bà Nguyễn Lan P) chạy trên QL1A theo hướng Phủ Lý - Ninh Bình. Khi đi đến Km 244 + 200 QL1A (khu vực ngã tư giao nhau giữa QL1A với đường ĐT495B) thuộc địa phận thôn Phú Gia, xã Thanh Nguyễn, huyện TL, tỉnh Hà Nam thì đèn tín hiệu giao thông trước khi vào ngã tư đang tín hiệu vàng, tuy nhiên T không giảm tốc độ và dừng xe mà tiếp tục điều khiển xe ô tô đi vào khu vực ngã tư. Cùng lúc này, tại khu vực ngã tư bên phải theo chiều đi, T nhìn thấy phía trước xe ô tô do T điều khiển có 01 xe đạp điện do ông Nhữ Tiến V điều khiển theo đường ĐT495B hướng xã TN đi xã Thanh Tâm (lúc này đèn tín hiệu giao thông phía chiều đi của ông V đang là tín hiệu đỏ), do không giảm tốc độ trong trường hợp gặp biển cảnh báo nguy hiểm (W207a báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên hai bên), không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông và không nhường đường cho xe đi từ bên phải đến tại khu vực ngã tư giao nhau dẫn đến phần ba đờ sốc bên phải, đầu tai xe phía trước bên phải, mặt ngoài góc bên phải ốp nhựa đầu xe ô tô BKS 35B - 017.34 do T điều khiển xô vào mặt ngoài ốp nhựa thân xe bên trái, đầu tay nắm ghi đông bên trái xe đạp điện của ông V, làm xe đạp điện bị đổ nghiêng ra đường, ông V bị ngã ra đường, T đạp phanh cho xe ô tô dừng lại. Hậu quả: Ông Nhữ Tiến V bị thương tích được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam, sau đó chuyển lên Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức, Hà Nội để điều trị, xe ô tô và xe đạp điện bị hư hỏng.

Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện TL đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm P tiện có liên quan.

* Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe ô tô BKS 35B - 017.34; 01 (một) xe đạp điện; 01 (một) USB bên trong có lưu giữ hình ảnh xảy ra vụ tai nạn giao thông được trích xuất từ Camera an ninh của Công an xã Thanh Nguyên niêm phong trong phong bì ký hiệu M1; 01 (một) thẻ nhớ Camera hành trình của xe ô tô BKS 35B 017.34 được niêm phong trong phong bì ký hiệu T; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định, 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện (đều của xe ô tô BKS 35B- 017.34); 01 (một) chứng minh nhân mang tên Phạm Đình T, 01 (một) giấy phép lái xe hạng E mang tên Phạm Đình T.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 274/22/TgT ngày 22/9/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua giảm định:

- Chấn thương sọ não: (máu tụ ngoài màng cứng đỉnh trái, máu tụ dưới màng cứng vùng trán - đỉnh - thái dương hai bên, dập não trán - thái dương hai bên, vỡ xương đỉnh phải), sau điều trị.

+ Máu tụ ngoài màng cứng, không còn hình ảnh tổn thương trên chuẩn đoán hình ảnh.

+ Máu tụ dưới màng cứng, còn ổ dịch không có di chứng thần kinh.

+ Ổ tổn thương não không có di chứng thần kinh, đường kính lớn hơn 05 cm đến 10 cm.

+ Khuyết xương sọ vùng trán - đỉnh - thái dương phải, đã vá bằng mảnh xương, đường kính ổ khuyết từ 10 cm trở lên, đáy chắc.

- Sưng nề vùng thái dương trái, sau điều trị đã ổn định.

- Sưng nề vùng thắt lưng, sau điều trị đã ổn định.

2. Căn cứ Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích, ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể S dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định 62% (sáu mươi hai phần trăm).

3. Đặc điểm, chiều hướng thương tích.

Qua nghiên cứu hồ sơ tài liệu và khám giám định, nhận định: Thương tích sau điều trị đã ổn định nên không có đủ căn cứ để xác định chiều hướng”.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 50/KL - HĐĐGTS ngày 29/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện TL kết luận:

“Giá trị thiệt hại hư hỏng của xe đạp điện như sau:

- Tay phanh bên trái bị gãy phải thay mới 60.000 đồng

- Đầu tay nắm bên trải bị mài sạt phải thay mới 20 000 đồng.

- Nắp đậy vỏ xe bị vỡ rơi phải thay mới 180.000 đồng.

- Mặt ngoài ốp nhựa thân xe bên trái bị mải sạt phải thay mới 150.000 đồng.

- Để chân sau bên trái bị rách vỡ phải thay thế 50.000 đồng.

- Mặt ngoài yên xe bị rách phải thay mới 80.000 đồng.

- Công tháo lắp, thay thế 100.000 đồng.

Tổng giá trị thiệt hại là: 640.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi nghìn đồng)”

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Phạm Đình T đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho ông Nhữ Tiến V số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng). Bị hại đã làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Phạm Đình T. Bà Nguyễn Lan P không yêu cầu Phạm Đinh T bồi thường hư hỏng của xe ô tô.

* Về xử lý vật chứng: trong giai đoạn điều tra, Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL đã ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại xe ô tô BKS 35B 017.34 và các giấy tờ liên quan cho bà Nguyễn Lan P; trả lại 01 xe đạp điện cho đại diện theo ủy quyền của bị hại là anh Nhữ Văn S.

Tại bản Cáo trạng số 97/CT-VKSTL ngày 30/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện TL đã truy tố Phạm Đình T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc Sa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao - xử phạt Phạm Đình T từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: trả lại cho Phạm Đình T 01 Giấy phép lái xe hạng E mang tên Phạm Đình T; lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 USB và 01 thẻ nhớ.

- Bị cáo Phạm Đình T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, Phạm Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám P tiện liên quan, Bản kết luận giám định pháp y về thương tích, bản kết luận định giá tài sản, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Phạm Đình T có giấy phép lái xe hạng E do Sở Giao thông vận tải tỉnh Ninh Bình cấp ngày 11/6/2019 có giá trị đến ngày 11/6/2024, điều khiển xe ô tô BKS 35B - 017.34 chạy trên QL1A theo hướng Phủ Lý - Ninh Bình. Khi đi đến Km 244 + 200 QL1A (khu vực ngã tư giao nhau giữa QL1A với đường ĐT495B thuộc địa phận thôn Phú Gia, xã Thanh Nguyên, huyện TL, tỉnh Hà Nam) do không giảm tốc độ trong trường hợp gặp biển cảnh báo nguy hiểm (biển W207a báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên hai bên), không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông và không nhường đường cho xe đi từ bên phải đến tại khu vực ngã tư giao nhau dẫn đến phần ba đờ sốc bên phải, đầu tai xe phía trước bên phải, mặt ngoài góc bên phải ốp nhựa đầu xe ô tô do T điều khiển xô vào xe đạp điện do ông Nhữ Tiến V điều khiển phía trước xe ô tô của T đang di chuyển theo đường ĐT495B sang đường QL1A theo hướng xã TN đi xã Thanh Tâm. Hậu quả làm xe đạp điện đổ nghiêng ra đường, ông V ngã và thương tích với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 62% (Sáu mưới hai phần trăm).

Hành vi nêu trên của Phạm Đình T đã vi phạm khoản 1, khoản 3 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; khoản 1, khoản 3 Điều 10, khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 24 Luật giao thông đường bộ, là nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông dẫn đến hậu quả ông Nhữ Tiến V bị thương tích 62% và đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TL truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm hại đến sức khỏe của người khác mà quyền này được pháp luật bảo vệ. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần thiết ra bản án nghiêm khắc tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo.

Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã “tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Sau khi gây tai nạn, bị cáo tích cực bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa P nơi bị cáo cư trú, cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; điều này thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn, hối cải nhưng cũng phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc Sa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo là lao động tự do, không hành nghề lái xe nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận giải quyết xong, nay không còn yêu cầu, đề nghị gì; bà Nguyễn Lan P không yêu cầu bị cáo bồi thường hư hỏng của xe ô tô nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với ô tô BKS: BKS 35B 017.34 và các giấy tờ có liên quan: quá trình điều tra xác định đây là tài sản, giấy tờ hợp pháp của bà Nguyễn Lan P; 01 xe đạp điện là tài sản hợp pháp của ông Nhữ Văn V. Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL đã trả lại xe ô tô và giấy tờ cho bà Nguyễn Lan P; trả lại xe đạp điện cho đại diện hợp pháp của bị hại là anh Nhữ Văn S là đúng pháp luật.

- Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng E mang tên Phạm Đinh T: đây là giấy tờ hợp pháp của bị cáo, nên sẽ trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 (một) USB bên trong có lưu giữ hình ảnh xảy ra vụ tai nạn giao thông được trích xuất từ Camera an ninh của Công an xã Thanh Nguyên niêm phong trong phong bì ký hiệu M1; 01 (một) thẻ nhớ Camera hành trình của xe ô tô BKS 35B 017.34 được niêm phong trong phong bì ký hiệu T là tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội nên cần lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự: căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b và s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên bố: bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Xử phạt bị cáo Phạm Đình T 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/12/2022).

Giao bị cáo Phạm Đình T cho Ủy ban nhân dân phường Tt, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo Phạm Đình T 01 Giấy phép lái xe hạng E mang tên Phạm Đình T.

- Lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) USB bên trong có lưu giữ hình ảnh xảy ra vụ tai nạn giao thông được trích xuất từ Camera an ninh của Công an xã Thanh Nguyên niêm phong trong phong bì ký hiệu M1; 01 (một) thẻ nhớ Camera hành trình của xe ô tô BKS 35B 017.34 được niêm phong trong phong bì ký hiệu T.

3. Án phí: bị cáo Phạm Đình T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được niêm yết.

5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ