- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đình Đ - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tich thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1135/KL-KTHS ngày 04-8-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định (chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngà…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:94/2022/HS-ST Ngày: 28-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Xuân Thu;
Ông Vũ Hùng Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2022/TLST - HS ngày 10 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2022/ QĐXXST - HS ngày 15 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Đỗ Đình Đ - Sinh năm 1979; tại xã Giao Nhân, huyện Giao thủy, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Đội 7, xóm D, xã G, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Thanh V và bà Trịnh Thị Nh (Đều đã chết); bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 03-8-2022, chuyển tạm giam từ ngày 06-8-2022 cho đến nay; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định “có mặt”.
Người chứng kiến:
- Ông Phùng Văn L (vắng mặt)
- Ông Doãn Trung T (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 02-8-2022, tổ công tác phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Nam Định đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường dong thuộc xóm Sơn Châu Đông, xã Giao Hà, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định phát hiện Đỗ Đình Đ là đối tượng nghiện ma túy đang dừng xe một mình có biểu hiện nghi vấn. Tổ tuần tra đã yêu cầu kiểm tra hành chính đối với Đ. Quá trình kiểm tra phát Đ đã tự giác giao nộp 01 ống nhựa màu trắng kẻ sọc đỏ dài khoảng 03 cm bên trong có đựng chất rắn dạng tinh thể màu trắng Đ khai nhận đó là ma túy đá Đ cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã đưa bị cáo cùng tang vật về trụ sở Công an xã Giao Hà, mời người chứng kiến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang; thu giữ vật chứng niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ, ngoài ra còn thu giữ của Đ 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA và 01 xe máy Honda Dream màu nâu BKS 18P-4662.
Tại bản kết luận giám định số: 1135/KL-KTHS ngày 04 tháng 8 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: “Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng có kẻ sọc đỏ, hàn kín hai đầu, kích thước dài khoảng 3cm, trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu Đ gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý: Methamphetamine. Khối lượng mẫu Đ: 0,366 gam.
Tại bản Cáo trạng số: 92/CT-VKS- GT ngày 08 tháng 11 năm 2022 của Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố Đỗ Đình Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Đỗ Đình Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như đã nêu trên.
Kiểm sát viên luận tội: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi cất giấu trái phép 01 ống Methamphetamine có khối lượng 0,366 gam mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và Đ nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Đình Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Đỗ Đình Đ từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là phạm tội, Đ nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện Đu hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 02-8-2022, tổ công tác phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Nam Định đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường dong thuộc xóm Sơn Châu Đông, xã Giao Hà, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang Đỗ Đình Đ có hành vi cất giấu trái phép trong người 01 ống ma tuý. Loại ma tuý: Methamphetamine. Khối lượng: 0,366 gam; bị cáo khai đi mua về để sử dụng cho bản thân. Như vậy hành của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự, xâm phạm tới đạo đức và sức khỏe con người. Bị cáo biết việc làm của mình bị pháp luật cấm, thấy được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi đi mua ma túy cất giấu để sử dụng cho bản thân dẫn đến phạm tội. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo phải đi tập trung cải tạo một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng….”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tô tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma tuý hoàn trả mẫu vật sau giám định.
Đối với 01 xe máy Honda Dream màu nâu BKS 18P-4662 và 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA đã thu giữ, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy cho anh Vũ Văn Hải là chủ sử dụng hợp pháp và chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo trả cho gia đình bị cáo là phù hợp.
[7] Về nguồn gốc số Methamphetamine Quá trình điều tra không đủ căn cứ kết luận ai là người bán ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị Quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Đỗ Đình Đ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 03-8-2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tich thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1135/KL-KTHS ngày 04-8-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định (chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 09-11-2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đỗ Đình Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Đỗ Đình Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Giao Thủy; - CQĐT Công an huyện Giao Thủy; - Cơ quan THAHS Công an huyện Giao Thủy; - Chi cục THADS huyện Giao Thủy; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; - Bị cáo; - Lưu VT; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phạm Thanh Lâm |